Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế có tốc độ phát triển hàng đầu cả nước, tập trung hệ thống cơ sở hạ tầng, dịch vụ, trung tâm thương mại hiện đại cùng thị trường lao động đa dạng. Điều kiện này tạo ra lực hút lớn đối với dòng người di cư từ các tỉnh thành, đặc biệt là lực lượng sinh viên đến học tập và tìm kiếm cơ hội lập nghiệp. Trong số đó, sinh viên ngoại tỉnh đang theo học tại Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh chiếm tỷ trọng đáng kể. Sau quá trình đào tạo, sinh viên phải đối mặt với quyết định lựa chọn nơi làm việc: tiếp tục ở lại thành phố để phát triển sự nghiệp hay trở về địa phương.
Khóa luận phản ánh bức tranh thực tiễn về thị trường lao động thông qua số liệu của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, chỉ ra khoảng 60% sinh viên sau khi tốt nghiệp làm việc trái ngành đào tạo; nhiều cử nhân làm việc tại khu công nghiệp hoặc tham gia các công việc lao động phổ thông không đòi hỏi bằng cấp như giao hàng, tài xế công nghệ (GoJek, Shopee, Be). Trích dẫn ý kiến chuyên môn từ TS. Đinh Công Khải (Trường Đại học Kinh tế TP.HCM), tác giả nhấn mạnh tình trạng thất nghiệp hoặc làm trái ngành bắt nguồn từ sự thụ động, tâm lý ngại va chạm thực tế, thiếu hụt kỹ năng mềm, kỹ năng làm việc nhóm và kỳ vọng thu nhập chưa thực tế của sinh viên mới ra trường. Đồng thời, Trung tâm Dự báo nhu cầu nhân lực và thị trường lao động TP.HCM ghi nhận tỷ lệ sinh viên có việc làm sau tốt nghiệp đạt 72,3%, song việc kết nối giữa cung - cầu lao động còn nhiều rào cản.
Đề tài "Những nhân tố tác động đến ý định ở lại Thành phố Hồ Chí Minh làm việc của sinh viên tỉnh tại Trường Đại học Ngân hàng" do sinh viên Lê Thị Kim Xuyến thực hiện (chuyên ngành Quản trị kinh doanh, mã số 7340101, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Bùi Đức Sinh) nhằm giải quyết các mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu sau:
Mục tiêu nghiên cứu:
- Tìm ra những nhân tố tác động đến ý định ở lại thành phố làm việc của sinh viên ngoại tỉnh tại TP.HCM nói chung và tại Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM nói riêng.
- Đo lường và đánh giá mức độ tác động của từng nhân tố đến ý định ở lại thành phố làm việc của sinh viên tỉnh tại Trường Đại học Ngân hàng.
- Đề xuất hàm ý quản trị giúp nâng cao hiệu quả quản trị nhân sự cho doanh nghiệp, nhà tuyển dụng, đồng thời gợi mở chính sách cân bằng việc làm và dân cư giữa tỉnh và thành phố.
Câu hỏi nghiên cứu:
- Các nhân tố nào có ảnh hưởng đến ý định ở lại TP.HCM làm việc của sinh viên ngoại tỉnh tại Trường Đại học Ngân hàng sau khi tốt nghiệp?
- Mức độ tác động của các nhân tố đến ý định ở lại thành phố làm việc của sinh viên Trường Đại học Ngân hàng sau tốt nghiệp được đánh giá như thế nào?
- Những đóng góp, đề xuất nào giúp Nhà nước và các cơ quan quản lý cân bằng chính sách việc làm giữa tỉnh và thành phố?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định ở lại TP.HCM làm việc của sinh viên ngoại tỉnh sau tốt nghiệp.
- Đối tượng khảo sát: Sinh viên đang theo học tại Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM.
- Phạm vi không gian: Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh.
- Phạm vi thời gian: Đề tài được thực hiện và thu thập dữ liệu từ tháng 1 năm 2023 đến tháng 3 năm 2023.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận hệ thống hóa các khái niệm nền tảng: sinh viên, sinh viên đã tốt nghiệp, yếu tố tác động và ý định hành vi. Nghiên cứu liên hệ các cơ sở thực tiễn và khung pháp lý liên quan đến chính sách giải quyết việc làm của Chính phủ, Nghị định số 140/2007/NĐ-CP về chính sách thu hút, tạo nguồn cán bộ từ sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, cán bộ khoa học trẻ, cùng Đề án thu hút chuyên gia, nhà khoa học và lao động sáng tạo trẻ của UBND TP.HCM giai đoạn 2020-2022, tầm nhìn đến năm 2025.
Khóa luận kế thừa và tổng hợp cơ sở lý luận từ các công trình nghiên cứu thực nghiệm tiền nhiệm:
- Nghiên cứu của Khoa Tài chính - Ngân hàng, Trường Đại học Thương mại về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định về quê làm việc (định hướng gia đình, thu nhập kỳ vọng, cơ hội việc làm, môi trường sống, tình cảm quê hương).
- Nghiên cứu của Huỳnh Trưởng Huy và La Nguyễn Thùy Dung (2011) tại Trường Đại học Cần Thơ với mẫu 200 sinh viên, chỉ ra gần 60% sinh viên có xu hướng ở lại Cần Thơ tìm việc làm do cơ hội học tập, phát triển nghề nghiệp và thu nhập.
- Nghiên cứu của Lê Sĩ Hải về các nhân tố tác động đến quyết định ở lại TP.HCM làm việc dưới góc độ di dân vi mô và vĩ mô.
- Nghiên cứu của Huỳnh Thị Mộng Cầm (2021) tại Trường Đại học Công nghệ Đồng Nai trên 450 cựu sinh viên, ghi nhận gần 63% cựu sinh viên chọn ở lại Đồng Nai làm việc dựa trên chính sách ưu đãi địa phương, mối quan hệ, năng lực bản thân, thu nhập và chi phí sinh hoạt.
Mô hình nghiên cứu đề xuất bao gồm 5 nhóm biến độc lập tác động lên 1 biến phụ thuộc:
- Điều kiện môi trường sống, cơ sở hạ tầng (MT): Gồm 5 biến quan sát (MT1 đến MT5).
- Điều kiện cơ hội việc làm và thu nhập (CH): Gồm 6 biến quan sát (CH1 đến CH6).
- Mạng lưới xã hội (XH): Gồm 3 biến quan sát (XH1 đến XH3).
- Phù hợp với lối sống thành phố (PH): Gồm 3 biến quan sát (PH1 đến PH3).
- Thông tin chính sách việc làm (CS): Gồm 3 biến quan sát (CS1 đến CS3).
- Biến phụ thuộc: Quyết định/Ý định ở lại thành phố làm việc (QD), đo lường qua 3 biến quan sát.
| Ký hiệu thang đo |
Tên nhân tố |
Số lượng biến quan sát ban đầu |
Nội dung biến quan sát |
| MT |
Điều kiện môi trường sống, cơ sở hạ tầng |
5 |
MT1: Nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ MT2: Dịch vụ chăm sóc sức khỏe, văn hóa, giải trí MT3: Mua sắm, ẩm thực đa dạng MT4: Chính sách an ninh xã hội tốt MT5: Cơ sở hạ tầng giao thông tốt, cảnh quan đẹp |
| CH |
Điều kiện cơ hội việc làm và thu nhập |
6 |
CH1: Cơ hội thăng tiến CH2: Trang thiết bị làm việc hiện đại CH3: Cơ hội cống hiến, phát huy CH4: Cơ hội tìm việc phù hợp, nhanh chóng CH5: Môi trường làm việc công bằng theo năng lực CH6: Thu nhập ổn định |
| XH |
Mạng lưới xã hội |
3 |
XH1: Còn ít người thân tại quê XH2: Không có mối quan hệ xin việc tốt ở quê XH3: Đã thiết lập nhiều mối quan hệ hỗ trợ tại TP.HCM |
| PH |
Phù hợp với lối sống thành phố |
3 |
PH1: Cảm giác thoải mái, tự do tại TP.HCM PH2: Cảm thấy hợp và quen cuộc sống TP.HCM PH3: Muốn sống tự lập |
| CS |
Thông tin chính sách việc làm |
3 |
CS1: Thông tin việc làm thành phố rõ ràng hơn ở quê CS2: Tuyển dụng ở quê chưa minh bạch CS3: Chính sách phúc lợi ở quê chưa tốt |
| QD |
Quyết định / Ý định ở lại làm việc |
3 |
QD1, QD2, QD3: Đánh giá ý định và quyết định lựa chọn ở lại TP.HCM |
Phương pháp nghiên cứu kết hợp hai giai đoạn:
- Nghiên cứu định tính: Phỏng vấn thử nghiệm và tham khảo ý kiến sinh viên các khóa tại Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM nhằm điều chỉnh nội dung câu chữ và hoàn thiện thang đo Likert 5 điểm (1: Hoàn toàn không đồng ý đến 5: Hoàn toàn đồng ý).
- Nghiên cứu định lượng: Tiến hành khảo sát trực tuyến qua bảng hỏi cấu trúc. Dữ liệu thu thập gồm 233 mẫu hợp lệ được mã hóa và xử lý trên phần mềm SPSS 20 thông qua các kỹ thuật: Thống kê mô tả; Kiểm định độ tin cậy Cronbach’s Alpha; Phân tích nhân tố khám phá (EFA) với phép trích Principal Component Analysis và phép xoay Varimax; Phân tích tương quan Pearson; Phân tích hồi quy tuyến tính bội đa biến; Kiểm định đa cộng tuyến (VIF), tự tương quan (Durbin-Watson) và kiểm định phân phối chuẩn phần dư qua biểu đồ Histogram và Normal P-P Plot.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan
Chương 1 thiết lập khung tổng thể cho đề tài: trình bày lý do chọn đề tài xuất phát từ sự dịch chuyển lao động của sinh viên tỉnh tại TP.HCM; xác định 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể và 3 câu hỏi nghiên cứu tương ứng; giới hạn đối tượng, phạm vi không gian tại Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM trong khoảng thời gian từ tháng 1 đến tháng 3 năm 2023; chỉ rõ phương pháp nghiên cứu kết hợp định tính và định lượng; xác định ý nghĩa khoa học về mặt lý luận và thực tiễn của công trình.
Chương 2: Cơ sở lý luận
Tác giả làm rõ hệ thống định nghĩa liên quan đến sinh viên, sinh viên tốt nghiệp, các yếu tố tác động nội tại và ngoại cảnh, cùng cơ chế hình thành ý định hành vi. Chương này phân tích cơ sở thực tiễn về chính sách đào tạo, thị trường lao động tại Việt Nam, các chương trình thu hút nhân tài của UBND TP.HCM giai đoạn 2020-2025 theo Nghị định 140/2007/NĐ-CP. Trên cơ sở tổng hợp 4 nghiên cứu thực nghiệm trong nước, tác giả xây dựng 5 giả thuyết nghiên cứu và phác thảo mô hình nghiên cứu đề xuất gồm 5 biến độc lập (MT, CH, XH, PH, CS) và 1 biến phụ thuộc (QD).
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Trình bày quy trình nghiên cứu 5 bước: (1) Hệ thống hóa lý thuyết; (2) Thiết kế thang đo sơ bộ; (3) Phỏng vấn định tính hiệu chỉnh bảng hỏi; (4) Khảo sát định lượng chính thức và xử lý dữ liệu qua SPSS 20; (5) Đánh giá kết quả và rút ra hàm ý. Tác giả thiết lập bảng mã hóa 20 biến quan sát độc lập và 3 biến quan sát phụ thuộc theo thang đo Likert 5 điểm. Đồng thời, chương 3 nêu rõ các tiêu chuẩn kiểm định định lượng: hệ số Cronbach’s Alpha $\ge 0.6$, tương quan biến - tổng $\ge 0.3$; EFA có KMO $\ge 0.5$, Bartlett's Sig $< 0.05$, Eigenvalue $> 1$, tổng phương sai trích $\ge 50%$, trọng số Factor Loading $\ge 0.5$; hệ số VIF $< 10$ và giá trị Durbin-Watson từ 1 đến 3.
Chương 4: Kết quả mô hình
Chương 4 thể hiện toàn bộ các tính toán thực nghiệm trên tập dữ liệu $N = 233$:
Cơ cấu mẫu nghiên cứu:
- Giới tính: 88 sinh viên nam (37,8%) và 145 sinh viên nữ (62,2%).
- Nguồn gốc: Sinh viên đến từ các tỉnh chiếm 64,4% (150 sinh viên), sinh viên có hộ khẩu tại TP.HCM chiếm 35,6%.
- Năm học: Sinh viên năm 1, 2, 3 chiếm 42,1%; sinh viên năm 4 chiếm 27,9%; sinh viên năm khác (năm 5, 6 chưa tốt nghiệp) chiếm 15,9%.
- Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh chiếm 36,5% (85 sinh viên); Tài chính - Ngân hàng chiếm 28,8%; Kế toán chiếm 19,7%; các ngành khác chiếm 15,0%.
Kiểm định độ tin cậy thang đo (Cronbach’s Alpha):
- Thang đo MT (5 biến quan sát): Cronbach’s Alpha = 0,820.
- Thang đo CH (6 biến quan sát): Cronbach’s Alpha = 0,728; biến quan sát CH5 có tương quan biến - tổng = 0,114 (< 0,3) nên bị loại khỏi mô hình.
- Thang đo XH (3 biến quan sát): Cronbach’s Alpha = 0,723.
- Thang đo PH (3 biến quan sát): Cronbach’s Alpha = 0,685.
- Thang đo CS (3 biến quan sát): Đạt độ tin cậy yêu cầu (> 0,6).
| Thang đo |
Số lượng biến ban đầu |
Số lượng biến sau kiểm định |
Hệ số Cronbach's Alpha |
Biến bị loại |
| Điều kiện môi trường sống, cơ sở hạ tầng (MT) |
5 |
5 |
0,820 |
Không |
| Điều kiện cơ hội việc làm và thu nhập (CH) |
6 |
5 |
0,728 |
CH5 (Hệ số tương quan biến - tổng = 0,114) |
| Mạng lưới xã hội (XH) |
3 |
3 |
0,723 |
Không |
| Phù hợp với lối sống thành phố (PH) |
3 |
3 |
0,685 |
Không |
| Thông tin chính sách việc làm (CS) |
3 |
3 |
> 0,600 |
Không |
Phân tích nhân tố khám phá (EFA):
- Biến độc lập lần 1: KMO = 0,781, Sig Bartlett's Test = 0,000; 5 nhân tố được trích tại Eigenvalue = 1,363 > 1 (nhân tố thứ 6 có Eigenvalue = 0,737 < 1); tổng phương sai trích đạt 67,701%. Ma trận xoay Varimax chỉ ra 2 biến quan sát MT1 và CH4 cùng tải lên hai nhóm nhân tố khác nhau nên bị loại bỏ.
- Biến độc lập lần 2: Thực hiện sau khi loại MT1 và CH4, ma trận xoay hội tụ về 5 nhóm nhân tố rõ rệt. Trọng số nhân tố nhỏ nhất là MT4 (0,698) và lớn nhất là XH1 (0,825).
- Biến phụ thuộc: KMO = 0,707, Sig Bartlett's Test = 0,000; trích được 1 nhân tố duy nhất với Eigenvalue = 2,108 > 1; tổng phương sai trích đạt 70,282%. Biến QD1 đạt hệ số tải cao nhất là 0,843.
Phân tích tương quan và hồi quy tuyến tính:
- Phân tích tương quan Pearson cho thấy 5 biến độc lập đều có tương quan tuyến tính có ý nghĩa thống kê với biến phụ thuộc (Sig < 0,05).
- Tóm tắt mô hình hồi quy: Hệ số xác định hiệu chỉnh $R^2 = 0,667$ (66,7%), cho biết 5 biến độc lập giải thích được 66,7% sự biến thiên của ý định ở lại làm việc.
- Hệ số Durbin-Watson đạt 1,975, nằm trong khoảng an toàn (1 < D < 3), xác nhận không có hiện tượng tự tương quan.
- Phân tích phương sai ANOVA đạt giá trị Sig = 0,000 (< 0,05), khẳng định mô hình hồi quy hoàn toàn phù hợp với tổng thể.
- Hệ số VIF của tất cả các biến độc lập đều nhỏ hơn 10, chứng minh không có hiện tượng đa cộng tuyến.
- Kết quả phương trình hồi quy chuẩn hóa: Cả 5 nhân tố đều tác động cùng chiều (+), trong đó hệ số của nhân tố Chính sách việc làm là $\beta = 0,223$, nhân tố Mạng lưới xã hội là $\beta = 0,230$. Thứ tự tác động giảm dần: (1) Điều kiện cơ hội việc làm và thu nhập; (2) Môi trường sống; (3) Mạng lưới xã hội; (4) Chính sách việc làm; (5) Phù hợp với lối sống thành phố.
- Kiểm định phần dư: Biểu đồ Histogram có đường cong phân phối chuẩn (Mean = -2,989e-16 xấp xỉ 0) và biểu đồ Normal P-P Plot có các điểm phân vị bám sát đường thẳng kỳ vọng, thỏa mãn giả định phân phối chuẩn.
Chương 5: Kết luận và đề xuất hàm ý quản trị
Tổng kết các kết quả nghiên cứu định lượng; đối chiếu thứ bậc tác động của các nhân tố; đề xuất các giải pháp quản trị nhân sự cho doanh nghiệp và kiến nghị chính sách giải quyết việc làm cho các cơ quan nhà nước; chỉ rõ 4 hạn chế của đề tài và định hướng cho các nghiên cứu tiếp theo.
Kết quả và đóng góp
Kết quả nghiên cứu chính
Mô hình nghiên cứu định lượng đã kiểm chứng và xác định 5 nhân tố tác động cùng chiều có ý nghĩa thống kê đến ý định ở lại TP.HCM làm việc của sinh viên ngoại tỉnh Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM, với mức giải thích $R^2$ hiệu chỉnh đạt 66,7%.
Mức độ tác động của các nhân tố được xếp hạng theo thứ tự từ cao xuống thấp:
- Điều kiện cơ hội việc làm và thu nhập: Nhân tố có mức độ tác động mạnh nhất. Sinh viên ưu tiên cơ hội thăng tiến (CH1), trang thiết bị làm việc hiện đại (CH2), cơ hội cống hiến phát huy (CH3) và mức thu nhập ổn định (CH6).
- Điều kiện môi trường sống, cơ sở hạ tầng: Tác động tích cực thứ hai thông qua các tiện ích giải trí, y tế, văn hóa (MT2), sự đa dạng ẩm thực, mua sắm (MT3), an ninh xã hội (MT4) và hạ tầng giao thông (MT5).
- Mạng lưới xã hội: Tác động đứng thứ ba ($\beta = 0,230$), phản ánh thực trạng sinh viên ít mối quan hệ hỗ trợ tìm việc tại quê hương (XH1, XH2) và đã hình thành mạng lưới quan hệ hỗ trợ tại thành phố (XH3).
- Thông tin chính sách việc làm: Tác động đứng thứ tư ($\beta = 0,223$), liên quan đến mức độ rõ ràng, minh bạch của thông tin tuyển dụng và chính sách phúc lợi giữa thành phố và địa phương.
- Phù hợp với lối sống thành phố: Thể hiện sự thích nghi với môi trường sống tự do, tự lập sau thời gian học tập đại học.
Hàm ý và giải pháp đề xuất
- Đối với nhà tuyển dụng và doanh nghiệp: Cần nắm bắt các tiêu chí mà sinh viên ngoại tỉnh quan tâm nhất (cơ hội thăng tiến, môi trường làm việc minh bạch theo năng lực, mức thu nhập cạnh tranh) để xây dựng chính sách đãi ngộ, lộ trình phát triển nghề nghiệp rõ ràng; chủ động liên kết với nhà trường trong việc thực tập và tuyển dụng sớm.
- Đối với cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền địa phương: Nhằm giảm thiểu tình trạng "chảy máu chất xám" tại các tỉnh, các địa phương cần nâng cao tính minh bạch trong thông tin tuyển dụng công chức/viên chức và doanh nghiệp địa phương; ban hành chính sách ưu đãi, hỗ trợ ban đầu và nhà ở cho cử nhân tốt nghiệp trở về quê hương; đồng thời đẩy mạnh liên kết đào tạo sát với nhu cầu thực tiễn của thị trường lao động.
Đóng góp của đề tài
- Về mặt lý luận: Hệ thống hóa và kiểm chứng mô hình các nhân tố tác động đến ý định lựa chọn nơi làm việc của sinh viên trong bối cảnh đặc thù tại Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh; bổ sung dữ liệu thực nghiệm cho các lý thuyết về hành vi di cư lao động của trí thức trẻ.
- Về mặt thực tiễn: Cung cấp cơ sở dữ liệu định lượng cụ thể cho ban lãnh đạo nhà trường, các doanh nghiệp tuyển dụng và các nhà hoạch định chính sách nhằm đánh giá thực trạng tâm lý, định hướng nghề nghiệp của sinh viên tỉnh.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận tự chỉ ra 4 hạn chế chính trong quá trình thực hiện:
- Giới hạn đối tượng khảo sát: Đề tài chỉ tập trung khảo sát sinh viên đang theo học tại Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM, chưa mở rộng thu thập dữ liệu từ cựu sinh viên đã tốt nghiệp và đi làm thực tế để so sánh giữa ý định chủ quan và quyết định hành vi thực tế.
- Tính chủ quan của dữ liệu: Bảng khảo sát thu thập ý kiến trực tuyến có thể chịu ảnh hưởng từ cảm tính nhất thời của người trả lời tại thời điểm khảo sát.
- Thời gian nghiên cứu: Dữ liệu được thu thập theo phương pháp cắt ngang (cross-sectional) trong thời gian ngắn (tháng 1 - tháng 3/2023), chưa theo dõi được sự biến động của các nhân tố theo thời gian dài.
- Biến số giải thích: Mô hình giải thích được 66,7% sự biến thiên; còn 33,3% sự biến thiên chịu tác động của các nhân tố khác chưa được đưa vào mô hình nghiên cứu.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng phạm vi khảo sát sang các trường đại học khác trên địa bàn TP.HCM để tăng tính đại diện và so sánh đặc thù giữa các khối ngành.
- Kết hợp nghiên cứu lặp lại (longitudinal study) theo thời gian nhằm đánh giá sự thay đổi nhận thức của sinh viên từ khi còn đi học đến khi tốt nghiệp đi làm.
- Bổ sung thêm các nhân tố mới vào mô hình nghiên cứu như áp lực gia đình, chi phí sinh hoạt thực tế hoặc chính sách hỗ trợ khởi nghiệp.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng sau:
- Sinh viên và học viên chuyên ngành Quản trị kinh doanh, Quản trị nguồn nhân lực, Kinh tế lao động: Tham khảo quy trình nghiên cứu thực nghiệm chuẩn tắc, cách thức xây dựng thang đo, quy trình xử lý dữ liệu định lượng trên SPSS 20 (Cronbach's Alpha, EFA 2 lần, hồi quy đa biến và chẩn đoán phần dư).
- Các nhà nghiên cứu về di dân và thị trường lao động: Sử dụng kết quả và bộ biến quan sát về các yếu tố đẩy - kéo (push-pull factors) tác động đến quyết định định cư và làm việc của lao động trẻ tại các đô thị lớn.
- Bộ phận tuyển dụng (HR) của các doanh nghiệp, tổ chức tài chính: Hiểu rõ các kỳ vọng cốt lõi của sinh viên ngành kinh tế - ngân hàng để thiết kế các chương trình tuyển dụng cử nhân tập sự và chính sách giữ chân nhân tài.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận khảo sát bao nhiêu mẫu và cơ cấu sinh viên tham gia khảo sát như thế nào?
Nghiên cứu khảo sát thành công 233 sinh viên tại Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM. Trong đó, sinh viên nữ chiếm 62,2% (145 mẫu), sinh viên nam chiếm 37,8% (88 mẫu); sinh viên có quê quán ở tỉnh chiếm 64,4% (150 mẫu), sinh viên tại TP.HCM chiếm 35,6%; sinh viên năm 1-3 chiếm 42,1%, năm 4 chiếm 27,9% và các năm khác chiếm 15,9%; sinh viên ngành Quản trị kinh doanh chiếm tỷ trọng cao nhất 36,5%, tiếp theo là Tài chính - Ngân hàng (28,8%), Kế toán (19,7%) và ngành khác (15,0%).
2. Những biến quan sát nào đã bị loại bỏ trong quá trình kiểm định định lượng và vì sao?
Tổng cộng có 3 biến quan sát bị loại bỏ trong quá trình xử lý dữ liệu:
- Biến CH5 (Môi trường làm việc công bằng theo năng lực) bị loại ở bước kiểm định Cronbach’s Alpha do có hệ số tương quan biến - tổng là $0,114 < 0,3$.
- Biến MT1 (Nhiều cơ hội nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ) và biến CH4 (Cơ hội tìm việc làm phù hợp, nhanh chóng) bị loại ở bước phân tích EFA lần 1 do tải chéo lên 2 nhóm nhân tố khác nhau trong ma trận xoay.
3. Nhân tố nào có ảnh hưởng mạnh nhất đến ý định ở lại TP.HCM làm việc của sinh viên?
Kết quả hồi quy chỉ ra nhân tố Điều kiện cơ hội việc làm và thu nhập có tác động mạnh nhất đến ý định của sinh viên tỉnh, với các biến thành phần được đánh giá cao gồm cơ hội thăng tiến, trang thiết bị làm việc hiện đại, cơ hội cống hiến phát huy và mức thu nhập ổn định.
4. Mô hình hồi quy tuyến tính của nghiên cứu đạt độ tương thích và giải thích được bao nhiêu phần trăm dữ liệu?
Mô hình đạt hệ số xác định hiệu chỉnh $R^2 = 0,667$ (66,7%), kiểm định ANOVA có giá trị $Sig = 0,000 < 0,05$, hệ số Durbin-Watson đạt $1,975$ (không có tự tương quan), hệ số phóng đại phương sai $VIF < 10$ (không có đa cộng tuyến), và phần dư tuân theo phân phối chuẩn.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lê Thị Kim Xuyến đã giải quyết trọn vẹn mục tiêu xác định và đo lường các nhân tố tác động đến ý định ở lại TP.HCM làm việc của sinh viên ngoại tỉnh tại Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM thông qua phương pháp nghiên cứu định lượng chặt chẽ với quy mô mẫu 233 sinh viên. Kết quả phân tích hồi quy khẳng định 5 nhóm nhân tố gồm cơ hội việc làm - thu nhập, môi trường sống, mạng lưới xã hội, chính sách việc làm và sự phù hợp lối sống đều có tác động cùng chiều, giải thích 66,7% ý định ở lại thành phố của sinh viên. Công trình cung cấp hệ thống luận cứ thực nghiệm có giá trị tham khảo thiết thực cho các doanh nghiệp trong chiến lược thu hút nhân sự và các nhà hoạch định chính sách trong việc cân bằng nguồn nhân lực giữa các vùng miền.