Chương 1: Một số van dé lý thuyết - Chương 2 : Dịch vụ kho vận của công ty ALS Bắc Ninh - Chương 3 : Mô hình đánh giá sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ của công ty ALS Bắc Ninh 11161501 — Ngô Minh Hang Chuyên đề thực tập chuyên ngành Toán kinh tế CHUONG 1. MỘT SO VAN ĐÈ LÝ THUYET 1. Khái niệm va đặc điểm của dich vu kho vận 1. Khai niệm Theo Adam Smith: “ Dich vu là những ngành nghề hoang phí nhất trong tat cd cdc nganh nghé như cha đạo, luật sư, nhac công, ca si opera, vũ công.Công việc của tat cả bọn họ tàn lui dung lúc nó được sản xuất ra”.
Theo quan diém nay, Adam Smith bay to rang dich vụ là “không tồn trữ được”,được sản xuất và tiêu thụ một cách đồng thời. (Cao Minh Nghia, 2016, Phan 1) Cũng có quan điểm cho rằng dịch vụ là những hoạt động vô hình nhằm thỏa mãn những nhu cầu sản xuất kinh doanh và sinh hoạt. Tuy nhiên cách giải thích này còn chung chung, khái quát và chưa thực sự làm rõ được bản chất của DV. Dịch vụ xuất hiện trong nhiều lĩnh vực quanh chúng ta vì vậy luôn trở thành đối tượng nghiên cứu từ kinh tế, văn hóa, giáo dục, hành chính, công nghệ, khoa học,.
Bởi vậy ngày càng đa dạng những định nghĩa về dịch vụ cả về nghĩa rộng hẹp trên mọi lĩnh vực cuộc sông. Theo nghĩa hẹp, dịch vụ được hiểu là phần phụ trợ của quá trình sản xuất sản phâm, hỗ trợ cho khách hàng trước, trong và sau khi bán sản phẩm đó. Theo nghĩa rộng, dịch vụ là khái niệm chỉ toàn bộ các hoạt động mà kết quả của chúng không tồn tại đưới hình dạng vật thể. Hoạt động dịch vụ bao trùm lên tat cả các lĩnh vực với trình độ cao, chi phối rất lớn đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội, môi trường của từng quốc gia, khu vực nói riêng và thế giới nói chung.
Ở đây, dịch vụ không chỉ bao gồm những ngành truyền thống như: giao thông vận tải, du lịch, ngân hàng, thương mại, bảo hiểm, bưu chính viễn thông. mà còn lan tỏa tới các lĩnh vực khác như: văn hóa, bảo vệ môi trường, dịch vụ tư vân. Theo quan diém này, có thể hiểu dịch vụ là một ngành phi sản xuất, phục vụ nhu cầu con người. Dịch vụ là thứ không hiện hữu, không nhìn thấy được, nhưng chúng ta có thé nhận thức được nó hay nói cách khác dịch vụ là vô hình và có vai trò không thé thiếu được trong bat kỳ một nền kinh tế nào.
Từ những phân tích trên có thé hiểu, dịch vụ năm trong tất cả những hoạt động phục vụ sản xuất, đời sống dân cư và thương mại. Đặc biệt, thương mại thường được xem là một về ngang bằng với hoạt động dịch vụ, được tách riêng biệt khỏi phạm trù dịch vụ do các đặc tính, đặc thù riêng biệt.Tuy nhiên trong chuyên đề này, thương mại-dịch vụ được xem xét với tư cách một ngành kinh té 11161501 — Ngô Minh Hang Chuyên đề thực tập chuyên ngành Toán kinh tế thực hiện quá trình lưu thông trao đôi hàng hóa và thực hiện các công việc phục vụ cho sản xuât và tiêu dùng của dân cư trên thị trường. Hàng hóa sau khi sản xuất được luân chuyên qua nhiều công đoạn (vận chuyên, lưu kho, bảo quản hàng hóa.) mới có thể đến tay người tiêu dùng. Toàn bộ quá trình đưa sản phẩm từ nhà sản xuất đến tay người tiêu dùng được gọi chung là các dịch vu logistics.
Bởi vay, dịch vu logistics bao gom nhiéu dich vu xen ké nhau nhu: Dich vu giao nhan; van tai, phan phối hàng hóa; kho bãi, lưu kho; đại lý hải quan. Theo quan điểm truyền thống, dịch vụ kho vận là dịch vụ đóng vai trò lưu trữ nguyên vật liệu, thành phẩm, và các loại hàng hóa khác trong những khoảng thời gian ngắn hoặc dài hạn khác nhau theo nhu cầu của nhà sản xuất. Sau khi sản xuất hàng hóa, doanh nghiệp tiến hành lưu trữ hàng trong kho, sau đó phân phối đến các đại lý dé tiêu thụ rồi đến tay người tiêu dùng. Theo quan điểm hiện nay, dịch vụ kho vận bao gồm nhiều dịch vụ phụ trợ khác đi kèm.
Không chỉ đơn thuần là lưu kho hàng hóa thông thường, DV kho vận còn bao gồm các DV khác như xếp dỡ, phân loại hàng hóa trong kho, lưu kho hàng hóa, phân phối hàng hóa từ kho tới các đại lý tiêu thụ, các thủ tục hải quan liên quan tới hàng hóa lưu tại kho. Sau khi một hợp đồng thuê kho được ký kết, chủ hàng bắt đầu gửi hàng vào kho, nhà cung cấp dịch vụ có trách nhiệm tiếp nhận lệnh nhập kho. Quá trình nhập hàng hay xuất hàng yêu cầu phải kiểm đếm đúng số lượng và chủng loại bởi cùng một lô hàng hóa thường bao gồm nhiều loại, nhiều mã hàng hoặc thậm chí phải phân tách hàng hóa theo thời gian sản xuất (theo date). Trong quá trình lưu kho hàng hóa, đơn vị bán DV phải đưa thêm nhiều DV phụ trợ đi kèm như xếp dỡ hàng hóa (đưa hàng hóa từ xe vào kho khi nhập và ngược lại), dịch vụ đóng gói kiện hàng.
Khi khách hàng có nhu cầu xuất hàng, nhà cung cấp dịch vụ có trách nhiệm chuẩn bị đúng chủng loại và số lượng hàng hóa theo đề nghị của bên đó. Toàn bộ các công việc yêu cầu sự chính xác và phối hợp nhịp nhàng bởi cuối mỗi kỳ (thông thường theo tháng), nhà cung cấp dịch vụ phải chốt số liệu xuất, nhập, tồn kho dé gửi khách hàng xác nhận. Như vậy có thể nói, DV kho vận là một tổng thể bao gồm nhiều dịch vụ xen kẽ, tương hỗ nhau trong quá trình lưu trữ hàng hóa, bao gồm: Lưu kho hàng hóa, bốc xếp phân loại hàng hóa, phân phối giao nhận hàng hóa, các dịch vụ hải quan liên quan đến hàng hóa. trong đó dịch vụ lưu kho hàng hóa là dịch vụ chủ đạo.
11161501 — Ngô Minh Hang Chuyên đề thực tập chuyên ngành Toán kinh tế 1. Đặc diém của dịch vụ kho vận Cũng giống như những ngành dịch vụ khác, ngành dịch vụ kho vận có đầy đủ các tính chất đặc trưng của một ngành dịch vụ: Tính vô hình hay phi vật chất Dịch vụ kho vận cung cấp tới khách hàng là vô hình, chỉ có thể nhận thức, cảm nhận chứ không thê nhìn thấy. DV kho vận khi khách hàng nhận được là cả nhà cung cấp và khách hàng sử dụng dịch vụ đều không thé cam nắm. Trái ngược với sản pham, hàng hóa có tính hữu hình như tính chat cơ, lý, hóa học.
nhất định, tiêu chuẩn kỹ thuật cụ thê thì dịch vụ kho vận lại không xác định. Bởi do đặc tính vô hình nên chúng ta không thé xác định được trực tiếp chất lượng dịch vụ dựa trên những tiêu chuẩn kỹ thuật được lượng hóa cụ thé như các sản pham hữu hình. Tính không thể phân chia Dịch vụ không có tính lưu trữ, bảo quản; nhà cung cấp và người tiêu dùng đều không thể lưu trữ chúng do quá trình hình thành, cung cấp và sử dụng DV kho vận diễn ra song song nhau. Khác biệt với quá trình sản xuất hàng hóa, là một quá trình diễn ra trước khi được tiêu dùng.
Tỉnh khó xác định và không ổn định Cũng như các ngành dịch vụ khác, chất lượng dịch vụ ngành kho vận có tính chất không đồng nhất với nhau. Chất lượng DV gắn liền với người trực tiếp bán dịch vụ và những nhân tố bên ngoài. Nhân viên cung cấp và thực hiện dịch vụ tới khách hàng ảnh hưởng đáng kể tới chất lượng DV. Cùng là dịch vụ kho vận của một công ty nhưng chất lượng dịch vụ khách hàng cảm nhận được là khác nhau khi nhân viên làm việc không giống nhau.
Hơn nữa, đôi khi, cùng một cá nhân, tô chức cung ứng cùng một loại dịch vụ nhưng chất lượng dịch vụ cũng không đồng nhất ở các thời điểm khác nhau. Hàm lượng trí thức trong dịch vụ chiếm ty lệ lớn Nếu sản xuất cần các nguyên liệu đầu vào hữu hình như dây chuyền sản xuất hay hệ thống máy móc thì quá trình hình thành DV kho vận không cần giống sản xuất. Chất xám của con người mới là yếu tố cơ bản, quan trọng trong hoạt động dịch vụ kho vận. Ngoài ra, cơ sở vật chất, kỹ thuật, công nghệ, dụng cụ, phương tiện, trang thiết bị nhà kho.
là không thé phủ nhận trong ngành kinh doanh dịch vụ kho vận. 11161501 — Ngô Minh Hang Chuyên đề thực tập chuyên ngành Toán kinh tế 1. Chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hang 1. Chất lượng dich vu Chất lượng dịch vụ được định nghĩa phụ thuộc vào đối tượng nghiên cứu, môi trường nghiên cứu.
Việc tìm hiểu chất lượng dịch vụ là cơ sở cho việc thực hiện các biện pháp nhằm cải thiện chất lượng dịch vụ. Bởi vậy, việc cách hiểu một cách đầy đủ về chất lượng dịch vụ không chỉ góp phần xây dựng mục tiêu phát triển mà còn định hướng cho doanh nghiệp, nhà cung cấp dịch vụ phát huy được thế mạnh của mình, khắc phục những yếu kém, hạn chế đang gặp phải. Có nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra các khái niệm về chất lượng dịch vụ khác nhau. Theo Dotchin & Oakland: “Chất: lượng dịch vụ là sự so sánh giữa mức độ kỳ vọng của khách hàng với năng lực đáp ứng các khía cạnh phản ánh chất lượng dịch vụ.
Một dịch vụ được xem là có chat lượng khi dich vụ đó thỏa mãn được những nhu cau và kỳ vọng của khách hang". Gronroos (1984) đã khái niệm chất lượng dịch vụ là: “ Sự chênh lệch giữa kỳ vọng của khách hàng về dịch vụ mà khách hàng sẽ sử dụng với cảm nhận về dịch vụ mà thực tế khách hàng nhận được ”. Nhà nghiên cứu Gronroos cũng cho rằng chất lượng dịch vụ gồm 2 yếu tố là chất lượng kỹ thuật và chất lượng chức năng. Trong đó, chất lượng dịch vụ liên quan đến những gì được phục vụ còn chất lượng chức năng cho biết chúng được phục vụ như thế nào.
Theo quan điểm ngành dịch vụ của Philip Kotler và cộng sự thì: “ Chất lượng dịch vụ là khả năng của một dịch vụ bao gốm độ bên tổng thể, độ tin cậy, độ chính xác, sự dễ vận hành, dễ sửa chữa và các thuộc tính có giá trị khác để thực hiện các chức năng của nó ". Một quan điểm khác về chất lượng dịch vụ dưới góc nhìn của Donald Davidoff : “Chất lượng dịch vụ là sự thỏa mãn khách hàng được xác định bởi việc so sánh giữa chất lượng cảm nhận (Perception — P) và chất lượng mong đợi (Expectation - E) ".