CHƯƠNG 1. Cơ SỞ LÝ LUẬN VÈ QUYẾT ĐỊNH ĐI DU LỊCH 1. Các khái niệm liên quan 1. Khái niệm du lịch Du lịch được coi là ngành công nghiệp không khói, không chi mang lại nguồn thu ngoại tệ mà còn đóng góp đáng kê vào thu nhập quốc dân (Anh và Tiến, 2019).
Du lịch được coi là một hướng đi đầy triên vọng và đóng vai trò rất quan trọng trong phát triên kinh tế ờ Việt Nam,tạo ra nhiều công ăn việc làm cho người dân địa phương và cơ hội phát triên đất nước (Dung và cộng sự, 2019). Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO), du lịch được hiểu là bao gồm những hoạt động của những người đi du lịch đến và hm trú ờ những nơi bên ngoài môi trường thông thường của họ không quá một năm liên tục đê giải trí, kinh doanh và mục đích khác. Theo Jafari (1977), du lịch là một loại hoạt động phi kinh doanh mà con người rời khôi nơi thường trú cùa mình. Hoạt động này bị ảnh hưởng bời các ảnh hưởng văn hóa xã hội, kinh tế và môi trường.
Đồng tình với quan diêm cho rằng du lịch là hoạt động của con người rời bò nơi tlưrờng trú, Leiper (1979) cho biết thêm, thời gian đi có thê là một hoặc nhiều đêm và hoạt động này không nhằm mục đích kiếm tiền. Du lịch là một hoạt động với một diêm đến không gian. Khách du lịch rời nơi thường trú đê đến một địa diêm cụ thê nhằm thòa mãn những nhu cầu cao hơn những nhu cầu cơ bản, cấp thấp nhất trong tháp nhu cầu cùa Maslow. Hành vi và nhu cầu của khách du lịch đã phát triên đáng kê.
Điều này đã được chírng minh trong các nghiên cứu gần đầy được thực hiện bởi WYSC (2017), người đã hru ý rằng giới trê muốn “xả stress” bằng cách trải nghiệm địa phương bằng cách uống cà phê và “đi chơi”, đầu tư vào cộng đồng địa phương. Ngày nay, du lịch là một phần thiết yếu cùa đời sổng văn hóa, là nguồn dinh dưỡng tinh thần cho mọi người trong xã hội. Ngành công nghiệp không khói này với những đóng góp to lớn cho sự phát triên kinh tế, giữ vị trí nôi bật trong nen kinh tế thế giới, thúc đây chuyên dịch cơ cấu kinh tế và kích thích các ngành kinh tế khác. Qua thời gian, khái niệm về du lịch được bô sung và 10 hoàn thiện về nội hàm.
Nội dung của khái niệm này có thê khái quát cơ bản là: du lịch là sự di chuyên một cách tạm thời trong một thời gian nhất định, có diêm xuất phát và quay trở về diêm bắt đầu; du lịch là hành trình tới diêm đến, sử dụng các dịch vụ như dịch vụ lưu trú, ăn uống. và tham gia các hoạt động nham thỏa mãn nhu cầu cùa du khách ờ các diêm đến. Hoặc du lịch là một chuyến đi có thê có nhiều mục đích riêng hoặc kết hợp, loại trò mục đích định cư và làm việc tại diêm đến. Khái niệm khách du lịch Cũng như khái niệm du lịch, có rất nhiều quan niệm khác nhau về khách du lịch.
Căn cír vào nội hàm cùa khái niệm du lịch, có thê xác định khách du lịch dựa trên hoạt động của họ, khách du lịch là những người có các hoạt động liên quan đến một kỳ nghi dài ngày và rời khỏi nơi cư trú ít nhất một đêm (Leiper, 1979; Tien, 2017). Theo một cách hiêu khác, khách du lịch là người tiêu dùng tại các diêm đến du lịch bằng các hoạt động sử dụng các tài nguyên nơi mà họ đến tham quan. Tất cả các hoạt động cùa du khách đều loại trừ hoạt động kiếm tiền tại nơi đến. Luật Du lịch Việt Nam 2017 có quy định về khái niệm và phân loại cùa khách du lịch như sau: “Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc đê nhận thu nhập ở nơi đến”.
Theo đó, khách du lịch bao gồm: khách du lịch nội địa, khách du lịch quốc tế đến Việt Nam và khách du lịch ra mrớc ngoài. Cụ thê, các loại khách du lịch này được định nghĩa như sau: (1) Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam, người mrớc ngoài cư trú ở Việt Nam đi du lịch trong lãnh thô Việt Nam; (2) Khách du lịch quốc tế đến Việt Nam là người nước ngoài, người Việt Nam định cxr ờ nước ngoài vào Việt Nam du lịch; (3) Khách du lịch ra nước ngoài là công dân Việt Nam và người mrớc ngoài cư trú ờ Việt Nam đi du lịch nước ngoài. Lý thuyết nền liên quan 1. Quá trình ra quyết định của khách du lịch Việc phân tích hành vi cùa khách du lịch là một chủ đề cơ bản được các diêm đến du lịch xem xét khi hoạch định chiến hrợc tiếp thị.
Dòng nghiên círu 11 này bao gồm các vấn đề nhir các yếu tố ảnh hường đến sở thích và lựa chọn của khách du lịch, động cơ của khách du lịch, các loại khách du lịch khác nhau với nhiều kỳ vọng và nhu cầu khác nhau, hiêu biết về quyết định du lịch của khách du lịch và phân khúc thị trường khách du lịch. Hành vi người tiêu dùng là một trong những lĩnh vực được nghiên círu nhiều nhất trong lĩnh vực du lịch (Cohen, Prayag và Moital, 2014). Một bài báo đánh giá đã xem xét các khái niệm chính, ảnh hường bên ngoài và bối cảnh nghiên círu phù hợp. Có ý kiến cho rằng các khái niệm chính trong lĩnh vực này bao gồm việc ra quyết định, giá trị, động lực, quan niệm về bản thân và tính cách, kỳ vọng, thái độ, nhận thức, sự hài lòng, tin ưrởng và lòng trung thành.
Trong nghiên cím này sẽ xem xét việc ra quyết định đi du lịch cùa nhớm nhân viên văn phòng quận 1&3. Quá trình mua các địa diêm du lịch và các diêm tham quan diễn ra theo một lộ trình ưrơng ựr như các sản phâm khác. Từ góc độ tiếp thị, hành vi lựa chọn của khách hàng có thê được nghiên círu thông qua năm bước cô điên (tìm kiếm thông tin nhu cầu - đánh giá lựa chọn thay thế - quyết định mua - đánh giá sau khi mua) một mô hình giải quyết vấn đề hoặc thông qua quá trình lựa chọn của người tiêu dùng từ một sản phâm (Kotler, 2000). Theo Kotler, người tiêu dùng được cho là trải qua một số giai đoạn khi mua hàng.
Nghiên cihi đã tiết lộ rằng người tiêu dùng trải qua năm giai đoạn chính trong quá trình mua hàng cùa họ. Các giai đoạn này đã được trình bày thông qua một mô hình giai đoạn cùa quá trình mua điên hình. Các giai đoạn trong quá trình mua bao gom nhận biết vấn đe, tìm kiếm thông tin, đánh giá các lựa chọn thay thế, quyết định mua và hành vi sau khi mua. Nhận diện vẩn đề: Quá trình mua bat đầu với một vấn đề hoặc một nhu cầu, có thê được kích hoạt bởi các tác nhân kích thích bên trong hoặc bên ngoài.
Đổi với các diêm du lịch và địa diêm thu hút người mua, khi nhu cầu của người tiêu dùng trở nên cấp thiết, người tiêu dùng sẽ hành động đê thỏa mãn. Các nhà tiếp thị cần xác định các trường hợp kích hoạt một nhu cầu cụ thê đê họ có thê phát triên các chiến lược tiếp thị kích thích sự quan tâm cùa người tiêu dùng. Tìm kiếm thông tin: 12 Một người tiêu dùng bị kích thích sẽ có xu hướng tìm kiếm thêm thông tin. Người mua có thê lấy thông tin về các điêm du lịch và diêm tham quan tìr ít nhất bổn nhóm nguồn.
Bao gồm các nguồn cá nhân như gia đình, bạn bè, hàng xóm, và người quen; các nguồn thương mại nhxr quảng cáo, nhân viên bán hàng, đại lý và trưng bày; các nguồn công cộng như phương tiện truyền thông đại chúng và các nguồn kinh nghiệm nhir kiêm tra xử lý và sử dụng sản phàm và dịch vụ. Tuy nhiên, mức độ ảnh hường của các nguồn thông tin nói trên thay đôi tùy theo loại sản phẩm và đặc tính cùa người tiêu dùng. Đảnh giá các phương án thay thế: Sau khi có được thông tin về sản phâm cần mua, người tiêu dùng bắt đầu đánh giá trên các thông tin đó. Tùy theo nhu cầu mong muốn đổi với sản phâm, người tiêu dùng sẽ lựa chọn mua sản phâm phù họp.
Nghiên cím này tập trung vào các yếu tố như giá cả của các diêm du lịch và các diêm tham quan, thương hiệu và hình ảnh cũng nhir các đặc diêm vật lý của các diêm đến. Người tiêu dùng hình thành niềm tin thương hiệu dựa trên các thuộc tính hoặc lợi ích thu được. Tập hợp niềm tin này về một thương hiệu tạo nên hình ảnh thương hiệu. Hình ảnh thương hiệu được phát triên nhir vậy sẽ giúp hình thành sờ thích hay lòng trung thành ở khách hàng.
Quyết định mua hàng: Trong giai đoạn đánh giá, người tiêu dùng hình thành sờ thích giữa các thương hiệu trong bộ lựa chọn dần người tiêu dùng đưa ra quyết định mua hàng. Khi thực hiện ý định mua hàng, người tiêu dùng có thê thực hiện tới năm phần nhò: quyết định về thương hiệu, quyết định về nhà cung cấp, quyết định về trải nghiệm chất lượng, quyết định về thời gian và quyết định về phương thức thanh toán. Hành vỉ sau mua hàng: Sau khi người tiêu dùng mua và sử dụng sản phầm/dịch vụ, họ sẽ tự cảm nhận và đánh giá sản phàm. Trong nghiên cím này là dịch vụ du lịch, khách hàng sẽ có phản írng hài lòng hay không hài lòng, điều này sẽ ảnh hường đến hành vi mua tiếp theo cùa họ.
Neu hài lòng, người tiêu dùng sẽ truyền bá tốt về dịch vụ, ngược lại, nếu không hài lòng, họ sẽ không muốn dùng lại dịch vụ này, 13 đánh giá tiêu cực về sản phẩm, mức độ cao hơn có thê “tây chay”. Bởi vậy, nhiệm vụ mấu chốt cùa marketing lúc này theo dõi người tiêu dùng cảm nhận nlur thế nào đồng thời tiếp nhận những ý kiến đánh giá, từ đó điều chinh các hoạt động marketing thích hợp.2 Lý thuyết hành vi dự định (Theory of Planed Behavior - TPB) Lý thuyết TPB ban đầu xuất phát từ lý thuyết hành động hợp lý (TRA) (Ajzen, 1991). TRA chi xem xét các khía cạnh mang tính điều kiện, chăng hạn nlnr thái độ (niềm tin hành vi) và các chuẩn mực chù quan (niềm tin quy phạm chù quan); TPB mở rộng đê bao gồm các khía cạnh phi điều kiện, chăng hạn nlur kiêm soát hành vi nhận thírc, trong quá trình ra quyết định (Ajzen, 1991; Lam và Hsu, 2004).