Chương 1: Giới thiệu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận.
Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Chương 2. Tín dụng và khả năng tiếp cận tín dụng Khái niệm về tín dụng và tín dụng ngân hàng: “Tín dụng là một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó một bên chuyển giao một lượng giá trị sang cho bên kia được sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận được phải cam kết hoàn trả theo thời gian đã thỏa thuận”.Theo Hội nghị thượng đỉnh toàn cầu về tín dụng vi mô tại Washington tháng 2 năm 1997: “Tín dụng vi mô là việc cung cấp các khoản vay quy mô nhỏ đến đối tượng người nghèo với mục đích giúp những người thụ hưởng thực hiện các dự án sản xuất kinh doanh để tạo thuận lợi từ đó nâng cao chất lượng đời sống cho cả người vay vốn và gia đình của họ”. Theo quan điểm của Ngân hàng phát triển châu Á (ADB): “Tài chính vi mô là việc cung cấp một phạm vi rộng các dịch vụ tài chính như tiền gửi, tài khoản tiết kiệm thanh toán, bảo hiểm, chuyển tiền cho người nghèo hoặc các hộ gia đình có thu nhập thấp, cho những hoạt động kinh doanh cá thể hoặc doanh nghiệp rất nhỏ” Tóm lại tín dụng là một phạm trù kinh tế đã tồn tại qua nhiều hình thái kinh tế - xã hội, bản chất của nó là một quan hệ vay mượn dựa trên nguyên tắc hoàn trả (cả vốn và lãi) sau một thời gian nhất định, là quan hệ chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng vốn là quan hệ bình đẳng hai bên cùng có lợi.
Trong nền kinh tế hàng hóa có nhiều loại hình tín dụng như: Tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng, tín dụng nhà nước, tín dụng tiêu dùng. Tín dụng ngân hàng cũng mang bản chất chung của quan hệ tín dụng nói chung, đó là quan hệ tin cậy lẫn nhau và cùng có lợi giữa các ngân hàng, tổ chức tín dụng với các tổ chức, cá nhân, được thực hiện dưới hình thức tiền tệ và theo nguyên tắc hoàn trả có lại. Do đặc điểm riêng của mình, tín dụng ngân hàng đạt được ưu thế hơn các hình thức tín dụng khác về khối lượng, thời hạn và phạm vi đầu tư. Với đặc điểm tín dụng bằng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 tiền, vốn tín dụng ngân hàng có khả năng đầu tư chuyển đổi vào bất cứ lĩnh vực nào của sản xuất và lưu thông hàng hóa.
Vì vậy mà tín dụng ngân hàng ngày càng trở thành một hình thức tín dụng quan trọng trong các hình thức tín dụng hiện có. Khả năng tiếp cận tín dụng là xác suất mà người vay có khả năng nhận được hoặc không nhận được các khoản tiền vay tín dụng. Tiếp cận tín dụng có nghĩa là mức độ tín dụng mà người vay có thể nhận được. Tín dụng chính thức Tín dụng chính thức là khoản tín dụng được cung cấp bởi các định chế tài chính chính thức.
Theo Đinh Phi Hổ (2008) định chế tài chính chính thức là những tổ chức kinh doanh tiền tệ đăng ký hoạt động theo pháp luật của nhà nước, chịu trách nhiệm nộp các khoản thuế theo quy định của nhà nước. Như vậy có thể thấy tín dụng chính thức là hình thức tín dụng hợp pháp, được sự cho phép của Nhà nước. Các tổ chức tín dụng chính thức hoạt động dưới sự giám sát và chi phối của Ngân hàng Nhà nước (NHNN). Các nghiệp vụ hoạt động phải chịu sự quy định của Luật Ngân hàng như quy định khung lãi suất, huy động vốn, quy định cho vay,… và những dịch vụ mà chỉ có các tổ chức tài chính chính thức mới cung cấp được.
Các tổ chức tài chính chính thức bao gồm các ngân hàng thương mại, quỹ tín dụng nhân dân, các chương trình trợ giúp của Chính phủ. Nông hộ Theo từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam thì nông hộ là gia đình nông dân ở nông thôn, sinh sống bằng nghề nông hoặc một số ngành nghề phụ khác. Nông hộ là đơn vị sản xuất quan trọng đối với nông nghiệp. Liên hợp quốc (1993) khái niệm về “Hộ” gồm những người sống chung dưới một ngôi nhà, làm chung và có chung một ngân quỹ.
Như vậy, nông hộ là những hộ sống ở nông thôn, có ngành nghề sản xuất chính là nông nghiệp, nguồn thu nhập và sinh sống chủ yếu bằng nghề nông. Ngoài hoạt động nông nghiệp, nông hộ còn tham gia các hoạt động phi nông nghiệp (như LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ…) ở các mức độ khác nhau. Tiếp cận tín dụng Nhiều nhà kinh tế có quan điểm khác nhau về thị trường tín dụng nông thôn. Một quan điểm cổ điển cho rằng người cho vay nặng lãi tại khu vực nông thôn cho vay mang tính độc quyền.
Một quan điểm khác lại cho rằng thị trường tín dụng nông thôn là hoàn hảo, có tính cạnh tranh cao và minh bạch, và lãi suất cao phản ánh mức rủi ro mất khả năng chi trả cao và chi phí thông tin tốn kém. Tuy nhiên, cả hai quan điểm này điều không giải thích được các thực tế sau đây ở khu vực nông thôn: (1) Tín dụng chính thức và phi chính thức cùng tồn tại, mặc dù lãi suất tín dụng chính thức thấp hơn; (2) Lãi suất biến thiên theo mức cân bằng giữa cung tín dụng và cầu; (3) Thị trường tín dụng phân khúc rất mạnh. Lãi suất thay đổi phụ thuộc vào khả năng chi trả và phụ thuộc vào mùa vụ; (4) Luôn tồn tại một lượng các người cho vay thương mại ở khu vực tín dụng phi chính thức, mặc dù lãi suất cao; (5) Ở khu vực phi tín dụng chính thức, liên kết giữa giao dịch tín dụng và giao dịch ở thị trường khác là phổ biến; (6) Các nhà cho vay chính thức thường chuyên biệt hóa ở các vùng mà nông dân có quyền với đất đai. Vốn tín dụng là một nguồn tài nguyên khan hiếm và khả năng tiếp cận vốn tín dụng của người đi vay phụ thuộc và cách đánh giá rủi ro của người cho vay.
Việc tiếp cận tín dụng được bắt đầu với lý thuyết cầu tín dụng của một cá nhân hoặc một hộ gia đình với mong muốn tối đa hữu dụng kỳ vọng của họ từ việc vay tiền từ các nhà cung cấp tín dụng. Mỗi đơn vị tiền có chi phí cơ hội của riêng mình, đó là lãi suất, do vậy quyết định cung tín dụng phụ thuộc vào lãi suất. Tuy nhiên, tăng lãi suất để bù đắp cho chi phí giao dịch cao của các khoản vay có thể loại người đi vay ít rủi ro vay tốt, dẫn đến kết quả người cho vay chỉ cho vay những dự án có rủi ro cao. Rủi ro đạo đức liên quan đến việc giám sát và thực thi cơ chế cho vay.
Cụ thể là khả năng người đi vay không nỗ lực hoàn trả nọ sau khi nhận được khoản vay vì họ biết người cho vay phải gánh chịu một phần rủi ro. Nói chung người cho vay quyết định cấp tín dụng và cấp bao nhiêu dựa trên một tập hợp các thông tin mà họ có được từ người đi vay. Điều này có nghĩa là không phải tất cả LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 người đi vay sẽ nhận được tín dụng với hồ sơ vay. Đặc điểm nhu cầu vốn của nông hộ Nhu cầu vốn trung dài hạn lớn và có tốc độ luân chuyển vốn chậm do chu kỳ sản xuất nông ngiệp kéo dài.
Mục đích sử dụng vốn đa dạng, các hộ đều sản xuất kinh doanh như kinh doanh tổng hợp kết hợp trồng trọt, chăn nuôi, tiêu thụ. Thông thường các nguồn tài trợ cho nhu cầu vốn lấy từ nhiều nguồn khác nhau, ngoài số tiền tự tích lũy, vay ngân hàng thì hình thức phi ngân hàng cũng rất phát triển như vay của người thân, bạn bè, vay tư nhân… Nếu phân loại hộ sản xuất theo thu nhập, thì hộ sản xuất giàu và khá là loại hộ sản xuất có thu nhập cao, ổn định, có vốn, có khả năng lao động và biết cách tiếp cận thị trường. Nhu cầu vay vốn của đối tượng này là mở rộng quy mô sản xuất hiện có. Loại hộ sản xuất có mức thu nhập trung bình thì nhu cầu vốn của đối tượng này là chủ đề đầu tư trang thiết bị, cơ sở vật chất, công nghệ để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh.
Loại hộ nghèo, đói có mức thu nhập quá thấp, nhu cầu vốn chủ yếu của hộ này thường là phục vụ kinh doanh nhỏ nhằm ổn định cuộc sống. Như vậy có thể thấy vốn là nhu cầu rất cần thiết cho phát triển kinh tế hộ sản xuất. Việc thiếu vốn có thể dẫn đến một số nguy cơ như hạn chế việc phát triển ngành nghề, ảnh hưởng xấu đến việc thay đổi cơ cấu kinh tế, hạn chế việc ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất. Đặc điểm cho vay nông hộ Cho vay nông hộ có một vị trí rất quan trọng, nó giúp cho nền nông nghiệp tạo ra nhiều hàng hóa hơn để cung cấp cho sản xuất công nghiệp, xuất khẩu đáp ứng nhu cầu lương thực, thực phẩm của toàn xã hội.
Việc cho vay nông hộ nhằm tạo điều kiện và khuyến khích nông dân tạo ra hàng hóa nông – lâm – ngư – diêm nghiệp, phát triển công nghiệp chế biến, mở các ngành nghề sản xuất mới, kinh doanh dịch vụ, tạo công ăn việc làm, nâng cao hiệu quả kinh doanh trong ngành công nghiệp, góp phần xây dựng nông thôn giàu có, văn minh. Đối tượng cho vay nông hộ thường là cây trồng, vật nuôi. Vì vậy khi cho vay LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Ngân hàng phải dựa vào tính chất thời vụ gắn liền với chu kỳ sinh trưởng, phát triển của động thực vật cụ thể. Vụ, mùa trong sản xuất nông nghiệp quyết định đến thời điểm cho vay và thu nợ.
Vì vậy đặc điểm của hộ ảnh hưởng rất lớn đến tổ chức cho vay và áp dụng các phương thức kỹ thuật cho vay thích hợp. Nếu ngân hàng tập trung cho vay vào các chuyên ngành hẹp như cho vay một số cây, con nhất định thì phải tổ chức cho vay tập trung vào một thời gian nhất định trong năm, đầu vụ tiến hành cho vay, đến kỳ thu hoạch tiêu thụ tiến hành thu nợ; còn chu kỳ sống tự nhiên của cây, con quyết định thời hạn cho vay, chu kỳ ngắn hay dài phụ thuộc và loại giống cây hoặc con và quy trình sản xuất.