CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN BẰNG TIỀN GỬI TIẾT KIỆM VÀ NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH TIẾP TỤC SỬ DỤNG SẢN PHẨM TIỀN GỬI TIẾT KIỆM CỦA KHCN 1.1 Tổng quan về ngân hàng thương mại 1.1 Khái niệm và vai trò của ngân hàng thương mại Khái niệm về ngân hàng thương mại Lịch sử hình thành của NHTM có nguồn gốc từ thời Trung cổ, khi các nhà buôn lẻ và nhà cá cược bắt đầu cung cấp dịch vụ huy động và cho vay tiền. Tuy nhiên, hình thành và phát triển của NHTM hiện đại diễn ra trong thời kỳ Cách mạng Công nghiệp và sau đó. Trong thế kỷ 17, các ngân hàng thương mại đầu tiên xuất hiện ở châu Âu, như Ngân hàng Riksbank ở Thụy Điển (1668) và Ngân hàng Anh (1694). Những ngân hàng này được thành lập để hỗ trợ việc giao dịch thương mại và tài trợ cho hoạt động của chính phủ.
Sang thế kỷ 19, ngân hàng thương mại trở nên phổ biến hơn và mở rộng khắp thế giới. Nhiều ngân hàng thương mại lớn được thành lập trong thời gian này, bao gồm Ngân hàng Quốc gia của Pháp (1800), Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ (1913) và Ngân hàng Liên bang Đức (1870). Sự phát triển của ngân hàng thương mại trong thời kỳ này phần lớn được thúc đẩy bởi sự gia tăng của thương mại quốc tế và nhu cầu về hỗ trợ tài chính cho các hoạt động kinh doanh. Trong thế kỷ 20 - 21, ngân hàng thương mại ngày càng trở nên quan trọng và đóng vai trò quan trọng trong hệ thống tài chính toàn cầu.
Các ngân hàng thương mại trở thành trung tâm của hệ thống tài chính, cung cấp dịch vụ tín dụng, quản lý rủi ro tài chính và quản lý tiền gửi của khách hàng. Các NHTM cũng tham gia vào các hoạt động tài chính phức tạp như chứng khoán, ngân hàng đầu tư và quản lý tài sản. Ngân hàng thương mại là một loại tổ chức tài chính chuyên cung cấp dịch vụ tài chính cho cá nhân, doanh nghiệp và tổ chức khác. Ngân hàng thương mại thường hoạt động bằng cách huy động vốn từ khách hàng thông qua tiền gửi và cung cấp các dịch vụ tài chính như cho vay, mở tài khoản, chuyển khoản và cung cấp các sản phẩm và dịch vụ tài chính khác.
Theo khoản 3 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng 2010 thì ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định nhằm mục tiêu lợi nhuận. Trong nghiên cứu này, ngân hàng thương mại là một loại tổ chức tài chính chuyên cung cấp dịch vụ tài chính như cho vay, mở tài khoản, chuyển khoản và cung cấp các sản phẩm và dịch vụ tài chính khác cho cá nhân, doanh nghiệp và tổ chức khác. Ngân hàng thương mại thường 7 hoạt động bằng cách huy động vốn từ khách hàng thông qua tiền gửi và thực hiện các hoạt động ngân hàng và kinh doanh khác để tạo lợi nhuận. Vai trò của ngân hàng thương mại Theo Phó Đức Bình An (2021) ngân hàng thương mại có các vai trò chính sau: Một là, NHTM là nơi cung cấp nhu cầu vay vốn cho sự phát triển nền kinh tế.
Ngân hàng thương mại là sản phẩm tất yếu của nền sản xuất hàng hóa. Trong giai đoạn phát triển của nền kinh tế, sản xuất hàng hóa phát triển, việc lưu thông hàng hóa ngày càng mở rộng, trong xã hội có những người có vốn nhàn rỗi, có những người có nhu cầu vốn đi vay để sản xuất kinh doanh. Sự hình thành của NHTM đã giúp cho những người có nhu cầu về vốn có được vốn mình cần, những người có tiền nhàn rỗi sẽ kiếm được lãi. Từ đó, ngân hàng thương mại đã tạo vốn để giúp cho nền kinh tế phát triển, đồng thời biến khoản tiết kiệm nhàn rỗi của người gửi trở thành khoản tiền để đầu tư.
Hai là, NHTM làm “cầu nối” giữa doanh nghiệp và thị trường. NHTM đóng vai trò này dưới hai góc nhìn. Vốn là yếu tố đầu vào cơ bản, thiết yếu trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Khi vốn tự có của doanh nghiệp không thể đáp ứng được, họ thường phải tìm đến các nguồn vốn có lợi.
Ở đây, NHTM giúp các doanh nghiệp bằng nguồn vốn tín dụng. NHTM chính là “cầu nối” quan trọng để đưa doanh nghiệp tiếp cận với thị trường bằng hình thức tín dụng. NHTM còn đóng vai trò làm trung gian thanh toán giữa cá nhân và doanh nghiệp với các đối tác của khách hàng. Khi người dân thanh toán tiền điện nước sinh hoạt, thay vì phải nhờ người đến nhà thu tiền, họ chỉ cần đến ngân hàng để thanh toán tiền sinh hoạt cho gia đình mình.
Ngân hàng đứng vai trò là bên thu hộ, sau đó chuyển tiền đến các công ty điện nước. Như vậy, NHTM đã giúp cho cá nhân, doanh nghiệp và thị trường gần nhau về cả không gian lẫn thời gian. Ba là, NHTM là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế của Nhà nước. Khi Nhà nước muốn khuyến khích phát triển một ngành nghề, một vùng hay một lĩnh vực kinh tế nào đó, song song với việc phải áp dụng chính sách của Nhà nước thì các NHTM thực hiện các chính sách ưu đãi trong việc đầu tư và sử dụng vốn như: lãi suất ưu đãi, kéo dài thời hạn vay, giảm bớt điều kiện để vay vốn.
Khi nền kinh tế tăng trưởng mạnh sẽ khiến các NHTM phải đưa ra các chính sách tiền tệ: tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc để làm giảm khả năng tự tạo tiền và làm giảm đi khả năng cấp tín dụng cho nền kinh tế. Bốn là, NHTM làm “cầu nối” giữa nền tài chính quốc gia với nền tài chính kinh tế. Xu hướng toàn cầu hóa, hiện đại hóa nền kinh tế thế giới kèm theo sự hình thành và phát triển hàng loạt của các tổ chức kinh tế, khu vực mậu dịch tự do làm mở rộng các mối quan hệ thương mại, lưu thông hàng hóa giữa các quốc gia trên thế giới ngày 8 càng mở rộng, đầu tư nước ngoài là hướng đầu tư quan trọng và đem lại một lượng lợi nhuận lớn. Bên cạnh đó, các nước cần xuất khẩu những loại mặt hàng và mặt hàng mà nước đó có lợi thế so sánh và nhập khẩu hàng hóa.
Các ngân hàng thương mại với các nghiệp vụ kinh doanh như nhận tiền gửi, cho vay, bảo lãnh, thanh toán quốc tế đã góp phần tạo điều kiện và thúc đẩy mối quan hệ kinh tế giữa các nước trên thế giới.2 Chức năng của ngân hàng thương mại: Ngân hàng thương mại có ba chức năng chủ yếu: chức năng trung gian tín dụng, chức năng trung gian thanh toán và chức năng tạo tiền (Phó Đức Bình An, 2021, 6) Một là, ngân hàng thương mại có chức năng trung gian tín dụng. Chức năng tín dụng được coi là chức năng quan trọng nhất đối với ngân hàng thương mại. Với chức năng làm trung gian tín dụng, ngân hàng thương mại có vai trò làm cầu nối giữa người thừa vốn và người có nhu cầu về vốn. Ngân hàng thương mại đồng thời đóng vai trò nhận tiền gửi, là bên cho vay và hưởng lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận tiền gửi và lãi suất cho vay, góp phần tạo ra lợi ích cho các bên: người gửi tiền, người đi vay.
Hoạt động cho vay là hoạt động quan trọng của ngân hàng thương mại, thường đem lại lợi nhuận lớn cho ngân hàng. Chức năng trung gian tín dụng đồng thời chỉ rõ bản chất của NHTM là đi vay để cho vay, quyết định sự tồn tại, phát triển của ngân hàng. Đối với người đi vay, họ đáp ứng được nhu cầu về kinh doanh, chi tiêu và thanh toán mà không phải lo lắng nhiều về mặt chi phí, thời gian tìm kiếm nơi cung ứng vốn tiện lợi và an toàn. Đối với người gửi tiền, họ thu được lợi từ khoản vốn nhàn rỗi tạm thời bằng hình thức TGTK mà ngân hàng trả cho họ.
Ngoài ra, ngân hàng còn đảm bảo sự an toàn đối với người gửi tiền về khoản tiền gửi của họ. Đối với nền kinh tế, chức năng này đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vì nó đáp ứng nhu cầu về vốn. Ngân hàng thương mại đã biến khoản vốn nhàn rỗi của người gửi không hoạt động trở thành khoản vốn hoạt động, kích thích quá trình luân chuyển vốn, thúc đẩy quá trình sản xuất kinh doanh. Hai là, ngân hàng thương mại có chức năng trung gian thanh toán.
Ở đây, ngân hàng thương mại có vai trò là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân, thực hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu theo lệnh của họ. Ngân hàng thương mại thực hiện chức năng này dựa trên cơ sở chức năng trung gian tín dụng vì tiền đề để khách hàng thực hiện thanh toán qua ngân hàng chính là một phần tiền gửi trước đó. Việc ngân hàng thương mại thực hiện chức năng trung 9 gian thanh toán có tác động lớn đến nền kinh tế trong nước và cũng như là nền kinh tế thế giới. Các ngân hàng thương mại cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi.
Qua đó, chức năng giúp việc lưu thông hàng hóa, tốc độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn trở nên nhanh và thuận tiện. Việc thanh toán không dùng tiền mặt đã làm giảm bớt được lượng tiền mặt được lưu thông, giúp tiết kiệm chi phí lưu thông tiền mặt. Ngoài ra, chức năng này góp phần tăng thêm lợi nhuận cho ngân hàng thông qua việc thu lệ phí thanh toán, làm cho nguồn vốn cho vay của ngân hàng tăng thể hiện trên số dư có trong tài khoản tiền gửi của khách hàng. Ba là, NHTMcó chức năng tạo tiền.
Tạo tiền là chức năng quan trọng, phản ánh đúng bản chất của ngân hàng thương mại. Với mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận như là yêu cầu chính cho sự tồn tại và phát triển của ngân hàng, các NHTMvới nghiệp vụ kinh doanh mang tính đặc thù của mình đã thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế. Chức năng tạo tiền được thực thi dựa trên cơ sở hai chức năng khác là chức năng trung gian tín dụng và chức năng thanh toán.