Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Lịch sử nghiên cứu tâm lý học đường tại nước ngoài: Tâm lý học đường là một nhánh của ngành Tâm lý học được ra đời đầu tiên tại Mỹ vào đầu thế kỷ XX. Linghtner Witmer, cha đẻ của ngành Tâm lý học lâm sàng đã mở phòng khám tâm lý đầu tiên vào năm 1896 tại trường đại học Pennsylvania.
Phòng khám của Witmer đã cung cấp các dịch vụ bao gồm giáo giục và can thiệp lâm sàng. Nhân viên phòng khám đã điều trị cho các trẻ em có khó khăn tâm lý trong học tập bằng cách điều trị trực tiếp cho những đứa trẻ tại phòng khám và tư vấn cho các nhà giáo dục tại trường. Tuy nhiên, sự chuyên nghiệp của ngành tâm lý học đường phát triển mạnh ở Mỹ vào đầu thế kỷ 20 từ khi có sự ra đời của đạo luật phổ cập giáo dục cho trẻ em. Những đạo luật này đã dẫn tới hàng loạt trẻ em có các vấn đề về thể chất và tinh thần trong trường học.
Cùng thời gian đó, những sinh viên cá biệt được giáo dục trong các cơ sở riêng dẫn đến nhu cầu cần các chuyên gia để hỗ trợ cho việc giáo dục này. Cũng trong thời gian này, những bài kiểm tra đo lường trong giáo dục được xây dựng mà tiêu biểu là test IQ của Simon – Binet được thử nghiệm ở Pháp. Chính Binet được giới tâm lý học tôn vinh là cha để của tâm lý học học đường. Test của Binet đã được mang đến Mỹ vào những năm 1900 và được chuẩn hoá vào năm 1916 bởi Lewis Terman của trường đại học Standford, ngày nay đó là thang đo trí thông minh Standford-Binet.
Vai trò chính của các nhà tâm lý học đường thời đó là thực hiện và dịch chuẩn hoá các trắc nghiệm, tham vấn với giáo viên và phụ huynh học sinh về khó khăn trong học tập, động cơ, hành vi là những vai trò thứ yếu trong nghề nghiệp của họ. (Wikipedia, 2009) Frank Parsons (1854 – 1908) được xem là cha đẻ của ngành hướng dẫn tư vấn nghề ở Mỹ. Ông đã cho ra đời cuốn sách “Cẩm nang hướng nghiệp” 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com (Vocational Bureau) nhằm trợ giúp các cá nhân trong việc lựa chọn nghề nghiệp, tìm ra cách bắt đầu xây dựng một nghề nghiệp thành công và hiệu quả. Ông thực sự mong muốn công tác hướng dẫn tư vấn nghề nghiệp được đưa vào trường học.
(Lê Thị Lan Phương,2003) Năm 1909, cuốn sách “ Chọn lựa một nghề” (Choosing a Vocation) được xuất bản được coi là sự cống hiến lớn lao cho công tác hướng dẫn tư vấn nghề. Boston trở thành địa điểm tổ chức “Hội nghị công tác hướng dẫn tư vấn nghề nghiệp” đầu tiên và kết quả của hội nghị này đánh dấu sự ra đời của “Hiệp hội tư vấn hướng nghiệp quốc gia Mỹ” năm 1913, tổ chức tiền nhiệm của “Hiệp hội tham vấn Mỹ” sau này. Frank Parsons đã hình dung ra công tác hướng dẫn tư vấn nghề nghiệp có hệ thống trong trường học. Ông cũng thấy được tầm quan trọng của công tác tham vấn cá nhân.
Nguyên tắc của ông trong công tác hướng dẫn tư vấn nghề đã ảnh hưởng sâu sắc đến những lĩnh vực rộng lớn hơn của công tác tham vấn. Mục đích chính của Parsons đối với công tác hướng dẫn tư vấn nghề được thể hiện trong 3 quá trình: (1) Sự thấu hiểu một cách rõ ràng về bản thân, về khả năng thích hoài bão, nguồn lực cũng như những hạn chế của bạn đối với nghề, động lực thúc đẩy bạn chọn nghề. (2) Kiến thức về những yêu cầu, điều kiện của thành công, những thuận lợi và khó khăn, sự đền bù; những cơ hội và những triển vọng phát triển trong giới hạn khác nhau của công việc. (3) Nguyên nhân thực sự trong mối liên hệ của hai nhóm trong thực tế.
Sau này, mặc dù công tác hướng dẫn tư vấn nghề nghiệp trong trường học được phát triển, song nhiều người đã tán thành việc cần có một cách tiếp cần rộng hơn với tham vấn trong trường học. Những người này cho rằng những chuyên gia tư vấn hướng nghiệp không nên chỉ tập trung quan tâm về ngành nghề mà còn nên chú ý đến sự khác biệt lớn trong những nhu cầu về 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tâm lý và giáo dục của học sinh. Nói cách khác những chuyên gia tư vấn hướng nghiệp phải là những nhà tham vấn tâm lý. Trước chiến tranh thế giới thứ hai, tâm lý thực hành chưa được phân chia thành lâm sàng, tham vấn, tâm lý học đường như ngày nay.
Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc kéo theo những hậu quả tâm lý nặng nề làm nảy sinh nhu cầu rất lớn các trắc nghiệm tâm lý và nó tác động một cách trực tiếp đến hoạt động hướng nghiệp trong trường học. (Ngô Minh Uy, 2008) Năm 1927, chuyên ngành TLHĐ đầu tiên được đào tạo tại trường Đại học New York bao gồm đào tạo đại học và sau đại học. Năm 1930 thì đào tạo tiến sỹ TLHĐ đầu tiên và nhà nước Mỹ đã cấp giấy chứng nhận nhà tâm lý học đường tại New York và Pensylvania. Sau những năm 30 của thế kỷ 20 thì Hiệp hội các nhà tâm lý học Mỹ (American Psychological Asociation) được thành lập nhưng loại trừ các nhà tâm lý học đường vì không có bằng tiến sỹ, một yêu cầu đối với những thành viên.
Đến năm 1969 thì Hiệp hội các nhà tâm lý học đường quốc gia được thành lập (The National Association of School Psychologist). Đây cũng là tổ chức lớn nhất có ảnh hưởng tới nghề nghiệp của tổ chức tâm lý học đường. Năm 1980, các nhà tâm lý học đường đã thay đổi chức năng và vai trò của nhà tâm lý học đường từ “đánh giá và đánh giá chuyên sâu” (assessment and placement intensive) sang “đánh giá và can thiệp sâu đối với những nhóm có nguy cơ ở trường phổ thông” (preferential assessment, interventions and at least secondary prevention for at risk groups). Những thay đổi này đã làm cho nỗ lực đáp nhu cầu của sinh viên, học sinh cũng như phụ huynh học sinh, giáo viên và cộng đồng ngày được nâng cao.
Đến năm 1997, tiêu chuẩn quốc gia dành cho các chương trình tư vấn học đường, kể từ đó ngành Tâm lý học đường được xem như là đã hoàn thiện. Hiện nay, Hiệp hội các nhà tâm lý học đường Mỹ được xem như là nguồn tham khảo và kiểu mẫu cho các chương trình tâm lý học đường của hầu 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hết các nước trên thế giới. Ngày nay, các dịch vụ hỗ trợ tâm lý học đường đã trở nên phổ biến trong các trường học ở nhiều nước trên thế giới. Lịch sử nghiên cứu tâm lý học đường tại Việt Nam Tâm lý học đường trên thế giới hiện nay đã có một quá trình phát triển lâu dài.
Tuy nhiên, ở nước ta nó vẫn còn là một lĩnh vực khá mới mẻ, các hoạt động trợ giúp tâm lý học đường cho học sinh còn chưa được đầu tư và quan tâm đúng mức. Trước năm 1975, tại miền nam Việt Nam đã có chương trình khải đạo trong trường học. Sau ngày thống nhất với sự thay đổi hoàn toàn cách thức giáo dục thì chương trình khải đạo không còn tồn tại theo đúng nghĩa của nó nữa. Năm 1984, trung tâm nghiên cứu tâm lý trẻ em và tâm bệnh lý NT do bác sỹ Nguyễn Khắc Viện thành lập trở thành nơi đầu tiên thực hành, phát triển nghề tham vấn trong đó có lĩnh vực tâm lý trẻ em và gia đình.
Phương châm nghiên cứu của trung tâm là chiết trung, không suy tôn một trường phái nào, không lấy một học thuyết nào làm chính thống. Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là nghiên cứu sâu từng trường hợp. Ngoài nghiên cứu ứng dụng, trung tâm còn biên soạn nhiều đầu sách, chương trình đào tạo, dịch và phổ biến một số phương pháp nghiên cứu tâm lý trẻ em. (Vũ Dũng, 2009) Trong vòng 10 năm trở lại đây, tình trạng học sinh tự tử, có những rối nhiễu về tâm lý, bỏ học, sa ngã vào các tệ nạn xã hội… đã khiến các nhà giáo dục, các nhà tâm lý có cái nhìn quan tâm nhiều hơn đến việc phải cung cấp cho học sinh, sinh viên các dịch vụ trợ giúp tâm lý học đường.
Chính vì vậy, thông tư số 9971/BGD-DT, Bộ giáo dục đào tạo đã gửi các cơ sở đào tạo và trường học về việc “triển khai công tác tư vấn cho học sinh, sinh viên”, đồng thời Bộ giáo dục cũng phát động việc xây dựng “ngôi trường thân thiện, học sinh tích cực” trong trường học. Điều này chứng tỏ các cấp lãnh đạo ngành giáo dục đã bước đầu quan tâm đến việc phát triển và cung cấp các dịch vụ trợ giúp tâm lý học đường cho học sinh, sinh viên nhằm giúp các em ngoài 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com việc được trang bị tốt về văn hoá còn có một sức khoẻ tinh thần khoẻ mạnh và lành mạnh. Có lẽ cũng chính mục tiêu đó mà nhiều trường đã kết hợp với các tổ chức, các viện, trường đào tạo, nghiên cứu về tâm lý để mở ra các phòng tâm lý học đường cho học sinh sinh viên. Ở thành phố Hồ Chí Minh, tính đến nay đã có hơn 50 trường từ bậc tiểu học, THCS đến PTTH.
Bắt đầu từ năm 2009, sở giáo dục thành phố sẽ tuyển tham vấn viên tâm lý. Ở Hà Nội có khoảng gần 10 trường THPT có phòng tham vấn học đường (Kỷ yếu hội thảo “Nhu cầu định hướng và đào tạo tâm lý học đường tại Việt Nam”,Tr.