CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE LO ÂU 1. Điểm luận nghiên cứu về lo âu 1. Số liệu dịch tễ Rồi loạn lo âu là một rối loạn tâm thần có thé xảy ra với bat kì ai và bat kì độ tuổi nào. Theo Tổ chức y tế thé giới trong năm 2015 có đến 3,6% dân số mắc rối loạn lo âu, tương đương 264 triệu người.
Con số này tiếp tục tăng lên 3,8% theo số liệu năm 2017, tương đương với 284 triệu người. Trong đó 2,8% là nam giới và 4,7% là nữ giới. Đối với lứa tuôi trẻ em và vị thành niên, nghiên cứu của Polanczyk và cộng sự vào năm 2015 đưa ra thống kê có 6,5% trẻ em và vị thành niên trên toàn thế giới mắc rối loan lo âu [30]. Theo một báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới — WHO, cứ 7 trẻ ở tuổi thiếu niên sẽ có 1 trẻ có rối loạn tâm ly, trong đó tram cam, lo âu và rối loạn hành vi là những rồi loạn phô biến nhất.
Theo ước tinh 3,6 trẻ từ 10 đến 14 tuổi và 4,6% trẻ từ 15 đến 19 tuổi có rối loạn lo âu. Báo cáo này cũng khang định răng, nếu các van đề về sức khỏe tâm thần ở độ tuổi này không được giải quyết, các hệ quả về thé chất và tinh thần có thé kéo dài đến tuổi trưởng thành [30]. Một nghiên cứu tại Việt Nam về các rối loan tâm thần thực hiện trên 1159 học sinh cấp 3 cho thấy, có đến 22,8% học sinh có triệu chứng đủ dé chan đoán rối loạn lo âu, trầm cảm; trong số những học sinh này, có những em có suy nghĩ về việc tự sát, lên kế hoạch tự sát, hoặc đã từng thử thực hiện hành vi tự sát [26]. Nghiên cứu của Nguyễn Công Khanh (2000) trên 503 học sinh cấp hai cho thấy tỷ lệ trẻ đã từng trải qua rối loạn lo âu từ 17,6% đến 19,2% [8].
Nghiên cứu của Hoàng Cẩm Tú và cộng sự (2007) khảo sát trên 1727 học sinh cấp hai ở Hà Nội đưa ra số liệu 25,7% học sinh có vấn đề về sức khỏe tâm thần, trong đó số học sinh có van dé lo âu và tram cảm là cao nhất (chiếm 29,7%) [11]. Qua những công trình nghiên cứu kề trên có thé thấy tỷ lệ trẻ em mắc rối loạn lo âu trên thê giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng là một con sô đáng báo động, doi hỏi chúng ta có nhận thức, thái độ, và hành vi nghiêm túc trong công tác chăm sóc sức khỏe tâm thân cho trẻ em. Các nghiên cứu về lo âu liên quan đến van dé học đường Nhằm tìm hiểu thực trạng vấn đề lo âu trong học tập và mối liên hệ của nó với rỗi loạn lo âu, bài báo của hai tác giả Hoàng Thị Thanh Huệ và Ngô Thanh Huệ của Viện Tâm lý Việt - Pháp phân tích kết quả trên 262 học sinh trung học phổ thông tại Hà Nội được tiến hành vào tháng 7 năm 2020. Kết quả nghiên cứu chỉ ra phần lớn học sinh có lo âu học tập ở mức trung bình (chiếm 66%, tương đương 173 học sinh), 54 em có lo âu học tập ở mức thấp (tương đương 20,6%) và 35 em có lo âu học tập ở mức cao (tương đương 13,4%).
Với rồi loan lo âu nói chung, nghiên cứu cho thấy rối loạn lo âu là một van dé khá phổ biến ở học sinh trung học phô thông (với 17,2%). Khi phân tích mối tương quan giữa lo âu học tập và rối loạn lo âu, hai tác giả nhận định rằng chúng có mối tương quan thuận chiều ở mức tương đối mạnh, tức là khi lo âu học tập tăng (hoặc giảm) thì mức độ rối loạn lo âu ở học sinh cũng tăng (hoặc giảm) [6]. Theo một nghiên cứu về thực trạng rỗi loạn lo âu của học sinh trung học phổ thông qua thang đo mức độ lo âu học đường (STAI), biểu hiện về sức khỏe thể chất mà học sinh thường gặp khi có cơn lo âu là cơ thé mệt mỏi, ué oải, không muốn vận động (22% học sinh trả lời rất thường xuyên); tim đập nhanh, thở gấp. Bên cạnh đó, các biểu hiện về tâm lý phô biến là tinh thần suy sụp (40% học sinh cảm nhận điều này rất thường xuyên), xếp thứ hai là cảm giác lo lắng về những điều bat hạnh rủi ro, va sự khó khăn khi đưa ra những quyết định.
Những biểu hiện này thường gắn liền với áp lực của việc học tập, những lo lắng cho tương lai, sự thiếu hụt về quan hệ tình cảm với người khác. Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ ra răng học tập chính là nguyên nhân quan trọng và thường xuyên tác động gây nhiều áp lực, căng thắng cho học sinh, sau đó mới đến các nhóm nguyên nhân khác như gia đình, bản thân học sinh, và các mối quan hệ xã hội. Những biểu hiện bất thường về tâm lý cùng với sức khỏe sẽ gây ảnh hưởng lớn đến việc học tập và cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của học sinh [13]. Nghiên cứu năm 2015 với khách thê là học sinh lớp 9 cho thấy mức độ tương quan giữa lo âu và kết quả học tập của học sinh trong hai năm gần nhất.
Cụ thể, kết quả học tập của năm học trước càng thấp, học sinh có xu hướng gia tăng lo âu học đường càng cao. Mức độ lo âu có xu hướng tăng dần khi các em học lớp cao hơn, nguyên nhân được cho là các em sẽ phải đối mặt với kỳ thi chuyển cấp và kết quả học tập sẽ quyết định thành tích và điều kiện chọn trường, chọn lớp của các em. Đồng thời, kết quả học tập thấp sẽ không thỏa mãn mong đợi của bản thân và của người khác [7]. Liên quan đến các vấn đề giao tiếp, một nghiên cứu trên 1769 bệnh nhân độ tuôi từ 15 đến 24 về nguyên nhân gây ra trầm cảm ở trẻ vị thành niên của Kessler và các cộng sự, đã chỉ ra một trong những nguyên nhân quan trọng gây ra trầm cảm trong độ tuổi này chính là mối quan hệ với bạn đồng trang lứa, những áp lực dé phù hợp với bạn cùng lứa tuổi của mình [25].
Một nghiên cứu của Gini G, Pozzoli T (2013) khang định răng trẻ em từng là nạn nhân của bắt nat thường xuyên được phát hiện có các nguy cơ cao mắc các vấn đề về bệnh thực thể thông thường như cảm lạnh, dau đầu, đau da dày, hoặc khó ngủ và thường có nhiều khả năng hút thuốc hơn. Các nạn nhân được báo cáo là thường xuyên phát triển các vấn đề về nội tâm và rối loạn lo âu hoặc tram cảm. Hơn nữa, nạn nhân của bắt nat có nguy cơ tự làm hại bản thân hoặc suy nghĩ về việc tự tử ở tudi vị thành niên tăng lên đáng kẻ. Việc bị bắt nạt ở trường học đã được phát hiện là có thể dự đoán cả các triệu chứng nhân cách ranh giới và các trải nghiệm tâm than, chang hạn như ảo giác hoặc ảo tưởng ở tuôi vị thành niên [19].
Như vậy, có thé thay các van đề liên quan đến học đường là một trong những tác nhân dan đên các van dé sức khỏe tâm than của học sinh. Các nghiên cứu về can thiệp tâm lý cho người có rồi loạn lo âu Trong các liệu pháp tâm lý thì tiếp cận nhận thức — hành vi (CBT) là liệu pháp đã được nhiều nghiên cứu khang định về tính hiệu quả khi can thiệp với thân chủ có chứng lo âu. Và đây cũng là liệu pháp được chúng tôi sử dụng trong đề tài này. Trị liệu nhận thức — hành vi được sử dụng rộng rãi ở Mỹ và các nước Tây Âu bởi nó có nhiều ưu điểm so với các liệu pháp trị liệu tâm lý khác, cụ thé là thời gian can thiệp ngắn và không tốn kém chi phí cho bệnh nhân.
Trị liệu nhận thức — hành vi tập trung vào các kỹ năng và hướng đến việc thay đổi những phản hồi cảm xúc kém thích ứng băng cách thay đổi suy nghĩ và hành vi của thân chủ [23]. Nghiên cứu của Hoge EA và cộng sự (2013) với tiêu đề “7h nghiệm ngẫu nhiên có kiểm soát về thiền chánh niệm đối với chứng rồi loạn lo âu lan tỏa: Ảnh hưởng đến phản ứng lo âu và căng thang” cho thay thiền chánh niệm có thé có tác dụng hữu ích đối với các triệu chứng lo âu trong rối loạn lo âu tổng quát và cũng có thé cải thiện kha năng phản ứng và đối phó với căng thang như được do trong thử thách căng thăng trong phòng thí nghiệm [22]. Một nghiên cứu siêu phân tích năm 2013 trên 71 nghiên cứu khác nhau về tính hiệu quả của CBT với than chủ mắc các dạng rỗi loan lo âu chỉ ra, CBT có hiệu quả cao dé can thiệp các dạng rỗi loạn lo âu và có thé được áp dụng rộng rãi ở nhiều bối cảnh. Ngoài ra, các cải thiện về triệu chứng cũng được duy trì ít nhất 12 tháng sau khi kết thúc can thiệp [20].
Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm lo âu Trong thực tế hàng ngày, lo âu và lo lắng thường được dùng dé thay thé cho nhau, tuy nhiên lo âu khác với lo lắng về cả khái niệm và sinh lý. Hiệp hội tâm thần Hoa Kỳ định nghĩa về lo âu là cảm xúc đặc trưng bởi sự e ngại và các triệu chứng căng thăng trong đó cá nhân lường trước nguy cơ sắp xảy ra, thảm họa hoặc sự bất hạnh. Trước những mối đe doa đó, cơ thé có phản ứng như: căng cơ, hơi thở nhanh và tim đập nhanh.
Lo âu được coi là một phản ứng xảy ra trong thời gian dài, những vấn đề lo âu thường hướng tới tương lai, tập trung vào một mối đe đọa lan tỏa, trong khi lo lắng là phản ứng phù hợp với tình huống hiện tại, xảy ra trong thời gian ngắn với một mối de dọa cụ thé, rõ ràng [16]. Như vậy, lo âu là sự lo lắng, sợ hãi không thực tế hoặc quá mức, kéo đải nhiều ngày (ít nhất 6 tháng). Ta có thê phân biệt lo âu và lo lắng theo bảng tóm tắt dưới đây: Lo lang Lo âu - Có thé xuất hiện ngẫu nhiên mà không - Được kích hoạt bởi một sự kiện và tinh có sự kiện, tình huống cụ thê.