ĐẶT VẤN ĐỀ Sức khỏe tâm thần (SKTT) đang là vấn đề sức khỏe ảnh hưởng tiêu cực tới chất lượng cuộc sống ở nhiều nhóm tuổi, trong đó, căng thẳng, lo âu và trầm cảm là các dấu hiệu thường được quan tâm đo lường trong cộng đồng nói chung và đối với nhóm vị thành niên (VTN) nói riêng. Uớc tính, 0,3 – 0,7% dân số thế giới bị mắc bệnh tâm thần phân liệt và 3 – 5% có triệu chứng trầm cảm ở một giai đoạn nào đó trong cuộc đời (1,2). Đặc biệt, một số nghiên cứu chỉ ra, tỷ lệ VTN bị rối loạn trầm cảm (RLTC) rơi vào khoảng từ 4 – 6%, có khi lên đến 14 – 25% (2). Một vài nghiên cứu gần đây thống kê được tỷ lệ trầm cảm, lo âu – căng thẳng ở học sinh lớp 10 của Ấn độ lần lượt là 13,2% và 14,2% (1,2).
Trong khi đó, cuộc điều tra SKTT VTN toàn quốc tại Malaysia, sử dụng DASS 21 làm công cụ đo lường với lứa tuổi từ 13 – 17 cho thấy tỷ lệ trầm cảm nặng, lo âu và căng thẳng ở học sinh trung học là từ 9% – 11% (3). Tại Việt Nam, gần 15% dân số (tương đương gần 14 triệu người) có các triệu chứng về rối loạn tâm thần (RLTT). Nhiều nghiên cứu cho thấy, VTN ở Việt Nam có thể gặp phải các vấn đề SKTT như trầm cảm, căng thẳng, lo âu, có suy nghĩ tự tử, hay từng có cảm giác tuyệt vọng… Các vấn đề liên quan đến SKTT làm VTN giảm khả năng tham gia vào các hoạt động xã hội, ảnh hưởng đến sự phát triển của các em và làm tăng nguy cơ các bệnh và RLTT khi trưởng thành (4,5,6). Không những thế, các vấn đề đó còn dẫn đến nhiều hệ lụy về kinh tế, trong đó có giảm năng suất lao động, tăng áp lực cho hệ thống y tế, giáo dục, phúc lợi xã hội và hệ thống tư pháp (5,6).
Những học sinh có dấu hiệu hay triệu chứng trầm cảm cũng dễ trở thành nạn nhân của bắt nạt bởi bạn cùng trang lứa, đặc biệt nhiều học sinh đã từng có suy nghĩ/dự định tự tử. Trong khi đó, với đặc thù là một trong các quốc gia có thu nhập trung bình thấp, nhận thức về vấn đề này tại Việt Nam chưa cao và có khá ít chương trình hay dịch vụ chăm sóc SKTT cho VTN, kể cả là ở các trường học. Trên thế giới, một số nghiên cứu đã tìm hiểu về căng thẳng, lo âu, trầm cảm của học sinh lớp 10 cũng như ở lứa tuổi 15 (3). Lớp 10 (14 – 15 tuổi) là một trong những cột mốc quan trọng trong quá trình trưởng thành của mỗi con người, là giai đoạn tâm lý phức tạp nhất của mỗi đứa trẻ.
Các em thích tìm kiếm sự độc lập, tách khỏi sự kiểm soát của cha mẹ, tìm kiếm mối quan hệ ngoài gia đình, hướng đến bạn đồng trang lứa,… Đây cũng là giai đoạn chuyển cấp, các em phải làm quen lại từ đầu với trường 2 lớp, bạn bè, kiến thức. Trong giai đoạn này, các em rất dễ gặp phải các vấn đề về RLTT (7,8). Tại Việt Nam, trẻ em và VTN chiếm 1/3 dân số và thường tham gia vào các công việc giúp đỡ gia đình ngoài giờ học, đặc biệt là các em sống ở nông thôn, ngoại thành. Năm 2020, tính riêng trên địa bàn thành phố (TP) Hà Nội ước tính có khoảng 67.000 học sinh lớp 10 học tại các trường trung học phổ thông (THPT) công lập.
So với học sinh tại các trường nội thành, học sinh lớp 10 tại vùng ngoại thành Hà Nội được coi là thiếu những điều kiện hỗ trợ, giao tiếp xã hội hơn, trong khi đó vẫn phải chịu những áp lực trong học tập, kỳ vọng gia đình hay những vấn đề khác trong học tập cũng như đời sống cá nhân,… như những học sinh ở TP. Trong khi đó, tại Việt Nam chưa có nghiên cứu nào chỉ tập trung nghiên cứu tình trạng này ở nhóm tuổi 15 (lớp 10). Việc tập trung ưu tiên nghiên cứu thực trạng căng thẳng, lo âu, trầm cảm với nhóm đối tượng này là rất cần thiết để có biện pháp hỗ trợ kịp thời nhằm giúp các em cân bằng trong tâm sinh lý, giảm thiểu những hậu quả nặng nề do các vấn đề RLTT gây nên. Chương trình Happy House (Ngôi nhà Hạnh Phúc) được điều chỉnh từ chương trình gốc Resources Adolescene do nhóm tác giả Ian Schohet và cộng sự phát triển.
Chương trình đã được áp dụng trên hơn 20 quốc gia từ năm 1997 và đã có nhiều nghiên cứu chỉ ra chương trình đã góp phần làm giảm các triệu chứng trầm cảm, tăng các kỹ năng ứng phó thúc đẩy các khía cạnh tích cực về SKTT. Tại Việt Nam, chương trình đang được triển khai với học sinh lớp 10 tại 8 trường THPT công lập được lựa chọn ngẫu nhiên ở khu vực nội và ngoại thành TP Hà Nội (2019 – 2022). Trong chương trình này, học viên được phép tham gia vào giai đoạn điều tra ban đầu gồm xây dựng công cụ, thu thập số liệu và được phép sử dụng một số dữ liệu đã thu thập được ở điều tra ban đầu để trả lời câu hỏi tình hình dấu hiêu căng thẳng, lo âu và trầm cảm của học sinh lớp 10 ở 4 trường ngoại thành hiện đang thế nào và yếu tố nào liên quan với tình trạng này? Chính vì vậy, học viên đã thực hiện nghiên cứu “Căng thẳng, lo âu và trầm cảm ở học sinh lớp 10 tại 4 trường Trung học phổ thông công lập ngoại thành Hà Nội và một số yếu tố liên quan, năm 2020”. Kết quả của nghiên cứu giúp chương trình xây dựng, triển khai và đánh giá can thiệp nhằm nâng cao SKTT ở đối tượng VTN, đặc biệt là học sinh lớp 10 ở vùng ngoại thành Hà Nội.
3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả các dấu hiệu căng thẳng, lo âu và trầm cảm ở học sinh lớp 10 tại 4 trường Trung học phổ thông công lập ngoại thành Hà Nội năm 2020. Phân tích một số yếu tố liên quan đến các dấu hiệu căng thẳng, lo âu, trầm cảm ở học sinh lớp 10 tại 4 trường Trung học phổ thông công lập ngoại thành Hà Nội năm 2020. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Một số khái niệm, thuật ngữ 1. Sức khỏe tâm thần Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), SKTT là một bộ phận không thể tách rời của sức khỏe (9). SKTT không chỉ là không mắc các RLTT, mà còn bao hàm trạng thái thoải mái, sự tự tin vào năng lực bản thân, tính tự chủ, năng lực và khả năng nhận biết những tiềm năng của bản thân (9). Ngoài ra, SKTT có thể định nghĩa là khả năng của bộ máy tâm lý hoạt động một cách hoàn toàn hợp lý, có hiệu quả và đương đầu một cách mềm dẻo trước những tình huống khó khăn mà vẫn có thể tìm lại được sự cân bằng cho mình (4,6).
Rối loạn tâm thần RLTT là trạng thái tâm trí liên quan đến sự rối loạn hoạt động của não bộ do nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra như nhiễm khuẩn, nhiễm độc, sang chấn tâm thần, bệnh cơ thể,… làm rối loạn chức năng phản ánh thực tại. Các quá trình cảm giác, tri giác, tư duy, ý thức… bị sai lệch cho nên người bị RLTT có những ý nghĩ, cảm xúc, hành vi, tác phong không phù hợp với thực tại, với môi trường xung quanh (2). Các triệu chứng của RLTT rất đa dạng. Từ khi có bảng phân loại quốc tế 9 (1978) và 10 (1987,1992) và tập chẩn đoán thống kê các RLTT DSM.III của Hội Tâm thần học Hoa Kỳ (1980) và DSM.IV (1994) về các bệnh và các rối loạn bệnh tật, trên 300 RLTT và hành vi trong 100 mục bệnh và rối loạn đã được sắp xếp một cách hệ thống và hợp lý.
Trong 10 chương phần F của bảng phân loại bệnh lần 10 (ICD.10), các RLTT và hành vi đã được mô tả kỹ lưỡng về lâm sàng. Nguyên nhân gây nên RLTT là một vấn đề phức tạp. Hiện nay có những RLTT nguyên nhân đã rõ ràng, nhưng vẫn còn một số chưa xác định được. Tuy nhiên, tâm lý là một trong số những nhóm nguyên nhân chính được nhiều y văn và tài liệu phản ánh liên quan đến RLTT.
Trong đó, căng thẳng, lo âu và trầm cảm là những rối loạn được đề cập đến (2,4). Căng thẳng Theo WHO, căng thẳng (stress) là sự phản ứng thông qua thể chất, tinh thần, hoặc tình cảm của cơ thể con người với các tác nhân gây ra căng thẳng từ bên ngoài. Căng thẳng có thể biểu hiện trên cả 3 mặt: thể chất, tình cảm hay tinh thần (7). Các nhà khoa học Việt Nam cũng có những ý kiến riêng về căng thẳng.
Tác giả Tô Như Khuê đã cho rằng, căng thẳng tâm lý chính là những phản ứng không đặc hiệu 5 xảy ra một cách chung khắp, do các yếu tố có hại về tâm lý xuất hiện trong các tình thế mà con người chủ quản thấy là bất lợi hoặc rủi ro, ở đây vai trò quyết định không chủ yếu do tác nhân kích thích, mà do sự đánh giá chủ quan về tác nhân đó (10,11). Căng thẳng gây hậu quả cả về mặt thể chất và tinh thần: Về mặt thể chất: Tình trạng stress kéo dài dẫn đến rối loạn chuyển hóa lipid, làm tăng cholesterol trong máu. Căng thẳng làm tăng tiết catecholamin mà chủ yếu là adrenalin, gây co mạch máu dẫn đến thiếu ôxy ở tim và thành mạch, thiếu ôxy ở các tổ chức (5). Tăng catecholamim trong những điều kiện nhất định gây tình trạng thiếu ôxy tổ chức, loạn dưỡng và hoại tử cơ tim, thành mạch.
Stress có thể gây ra nhiều căn bệnh: Bệnh tâm thần kinh: mất ngủ, đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, buồn phiền, cáu gắt, loạn trí nhớ, trầm cảm. Bệnh tim mạch: tăng huyết áp, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não, loạn nhịp tim, hồi hộp đánh trống ngực. Bệnh tiêu hóa: viêm loét dạ dày – tá tràng, chảy máu tiêu hóa, thủng dạ dày, tiêu chảy, khô miệng, chán ăn, ăn không tiêu, hơi thở hôi, rối loạn chức năng đại tràng. Bệnh tình dục: giảm ham muốn, di tinh, mộng tinh, giao hợp đau… Bệnh phụ khoa: rối loạn kinh nguyệt, rối loạn nội tiết.
Bệnh cơ khớp: co cứng cơ, đau lưng, đau khớp, cảm giác kiến bò ở ngón tay, máy mắt, chuột rút, run rẩy. Toàn thân: suy sụp, mệt mỏi, dễ mắc các bệnh dị ứng hay bệnh truyền nhiễm. Về mặt tinh thần: Song song với tác động về mặt thể chất, căng thẳng gây ra tác động cả về mặt tinh thần (5). Các biểu hiện thường thấy là: Hay quên, mất trí nhớ; Căng thẳng, lo sợ; Mất ngủ, run rẩy.