Đặt vấn đề Trình bay sự cần thiết của dé tài, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu của đề tài. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu Trình bày một số khái niệm có liên quan đến đề tài như tín dụng, hộ nông dan.va các phương pháp nghiên cứu được sử dung trong đề tài. Tổng quan Trình bày tổng quan địa bàn nghiên cứu của đề tài là xã Báo Vinh Thị Xã Long Khánh tỉnh Đồng Nai và giới thiệu sơ nét về NHNo&PTNT Thị Xã Long Khánh. Kết quả nghiên cứu và thảo luận a ~‹ i eS — —z:—=————~ t- cư.
ỢỘ = Qi 2 Trinh bày các kết quả của việc nghiên cứu như: - Tình hình hoạt động kinh doanh của Chi nhánh NHNo&PTNT Long Khánh. - Đặc điểm của các hộ điều tra. - Tình hình vay vốn của các hộ điều tra. - Nhu cầu vay vốn của người dân.
- Quan điểm của người dân đối với rủi ro. Kết luận và kiến nghị Trình bày những kết quả chính mà dé tài đạt được trong quá trình nghiên cứu và một số kiến nghị đối với công tác tín dụng trên địa bàn xã. CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2. Khái niệm tín dụng Tín dụng, nếu xem xét dưới dạng khái quát là mối quan hệ vay mượn.
Nói một cách cụ thể hơn, tín dụng là quá trình mà người cho vay chuyển nhượng tạm thời một số tài sản trực tiếp đưới hình thái vật chất hoặc dưới hình “thai tiền tệ cho người đi vay sử dụng trong một thời han được thỏa thuận giữa hai bên. Hết thời hạn, người đi vay phải hoàn trả lại cho người cho vay khoản vốn vay và kèm theo một khoản lãi suất. Quan Hệ Tín Dụng Giá trị hàng hóa (hay tiền tệ) Người chovay % * Người đi vay Giá trị hàng hóa (hay tiền tệ) + lãi 2. Ban chất của tín dung Bản chất của tín dụng được thể hiện trong quá trình hoạt động của tín dụng và mối quan hệ của nó với quá trình phát triển sản xuất xã hội.
Mối quan "hệ này được thực hiện thông qua ba giai đoạn: Giai doan phân phối tín dung dưới hình thức cho vay. Nội dung của giai đoạn này là vốn tiền tệ hoặc vật tư hàng hóa được chuyển nhượng từ người cho vay đến người đi vay thông qua hợp đồng được ký kết theo nguyên tac thỏa thuận của hai bên, dựa trên cung — cầu của vốn cho vay. Giai đoạn sử dụng vốn vay trong quá trình sản xuất kinh doanh. Ở giai đoạn này, vốn vay có thé được sử dụng trực tiếp (nếu vay bằng hàng hóa) hoặc str dụng vào việc mua vật tư hàng hóa (nếu vay bằng tiền) dé thỏa mãn nhu cầu sản xuất, kinh doanh hay tiêu ding của người đi vay.
Giai đoan hoàn trá vốn tin dung. La giai đoạn kết thúc một vòng tuần hoàn của vốn tín dụng, đồng thời cũng là giai đoạn hoàn thành một chu ae a ein Si 2 = a kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh dé trở về hình thái tiền tệ vốn tin dung ban đầu của nó mà được người đi vay hoàn trả cho người cho vay. Hơn nữa, sự hoàn trả của tín đụng là quá trình trở về với tư cách là lượng giá trị vốn tín dung được vận động. Do đó, sự hoàn trả không chỉ luôn phải bảo tồn về mặt giá trị, mà còn có phần fing thêm dưới hình thức lãi suất.
Như vậy bản chất vận động của vốn tín dụng qua ba giai đoạn như đã dé cập ở trên là sự hoàn trả cả vốn gốc và theo đó là khoản lãi suất với tư cách là giá ca của vốn cho vay. Quá trình ra đời của tin dụng Quan hệ tín đụng đầu tiên như C.Mác nói là quan hệ cho vay nặng lãi, và như vậy tín dụng ra đời sớm nhất là tín dụng cho vay nặng lãi (một loại hình tín dụng phi chính thức). Tuy nhiên, tín dụng mà C.Mác đã phân tích không phải là hình thức đặc trưng và thích hợp đối với nền hinh tế hàng hóa mà trái lại, nó lại là hình thức kìm hãm sự phát triển của kinh tế hàng hóa, mặc dù xét ở một khía cạnh nào đó, tín dụng phi chính thức cũng giúp đỡ giải quyết nhu cầu cần tiền của người dân trong những lúc khó khăn nhất thời. Khi nền kinh tế hàng hóa phát triển, hoạt động tín dụng cũng phát triển với nhiều hình thức phong phú và đa đạng.
Trong điều kiện kinh tế Thị trường hiện nay, tín dụng được hiểu là một hình thức quan hệ tiền tệ, nó là một trong những loại hình kinh doanh tiền tệ dua trên quan hệ cung — cầu về tiền tệ, với mục đích mang lại lợi nhuận cho cả hai phía là người cho vay và người di vay. Như vậy, tín dung là một hình thức kinh doanh tiền tệ, mà chủ thé cầu phải có khả năng sử dụng cũng như vận hành nó một cách trôi chảy và mang lại hiệu quá trong một nền kinh tế hàng hóa. Trong đề tài này, chủ thể cầu tín dụng là những hộ gia đình sống ở khu vực nông thôn, kinh tế chủ yếu đựa vào nông nghiệp. Vai trò của tín dụng trong sản xuất nông nghiệp Trong hoạt động sản xuất nông nghiệp, tín dụng là nguồn quan trọng cung cấp những cơ hội để có được những khả năng kinh doanh tốt hơn cũng như tạo ra những ưu thế cho doanh nghiệp trong tương lai.
Khả năng tăng năng lực kinh doanh và thu nhập của các doanh nghiệp nông nghiệp là những nhân tố được xem xét để quyết định nên sử dụng tín dụng như thế nào cho hợp lý. Đối với vấn đề này, tín dụng có những vai trò sau: Góp phần tao ra và duy tri quy mô kinh doanh phù hợp. Trong hầu hết các cơ sở kinh doanh nông nghiệp, để tăng kết quả kinh doanh, người ta thường mở rộng quy mô kinh doanh và thực hiện giảm chi phí sản xuất. Tín dụng có thể được coi là một yếu tố để tạo quy mô kinh doanh phù hợp.
Doanh nghiệp có thể tăng năng lực kinh đoanh cũng như duy trì mức doanh thu cao thông qua việc tăng các yếu tố “đầu vào” cho sản xuất nhờ nguồn vốn tín dụng. Chẳng hạn, mua máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu để mở rộng sản xuất kinh doanh từ khoản tiền đi vay các tổ chức tín đụng. Tăng hiệu quả kinh doanh. Tín dụng có thể được coi là nguồn để thay thế các điều kiện sản xuất.
Chẳng hạn: dùng vốn tín dụng để mua máy móc thay cho lao động thủ công nhằm tiết kiệm chi phí và thời gian lao động. Tin dụng cũng có thể cái thiện điều kiện đầu tư cho sản xuất như mua được giống tốt hơn, mua được phân bón, thức ăn gia súc có chất lượng hơn., nhờ đó góp phan tăng hiệu quả của kinh doanh. Góp phần thực hiện điều chỉnh kinh doanh. Kỹ thuật mới thay đổi và các điều kiện Thị trường thay đổi đòi hỏi các cơ sở kinh doanh nông nghiệp luôn phải có những điều chỉnh trong kinh doanh.
Giống mới, công nghệ mới, quy trình canh tác mới, nguồn năng lượng mới.luôn là các yếu tố cần đầu tư thêm nhiều vốn. Yêu cầu Thị trường về sản phẩm cũng buộc các cơ sở kinh doanh nông nghiệp phải đáp ứng cho phù hợp. Tín dụng là nguồn quan trọng cho các chương trình điều chỉnh kinh doanh của đoanh nghiệp. Giải quyết các biến đông trong kinh doanh.
Hoạt động kinh doanh nông nghiệp có tính chất thời vụ rõ nét, do đó nhu cầu về chỉ tiêu và thu nhập tạo ra thường không trùng khớp vẻ thời gian. Sử dụng tín dung có thé là giảm bớt những căng thắng về vốn và chênh lệch về thu chỉ giữa các thời điểm trong năm. Hạn chế những bất lợi trong kinh doanh. Trong kinh doanh nông nghiệp, thời tiết, địch bệnh, giá cả.hiôn gây ra những bat định ảnh hưởng đến kinh doanh.
Tín dụng được coi là yếu tố góp phần ngăn ngừa những điều kiện bắt lợi trong kinh doanh, chống lại những rủi ro có thể xảy ra như giảm sút thu nhập, thiếu khả năng thanh toán. thiếu dự trữ sản xuất. | Tín dụng còn có thể có nhiều vai trò khác tuỳ mức độ sử dụng của tín dụng của từng doanh nghiệp, từng hộ nông dân. Điều đó phụ thuộc vào khả năng quản lý và những điều kiện kinh đoanh cụ thể của các cơ sở sản xuất.
Phân loại tín dụng Có nhiều cách phân loại khác nhau, nhưng có thể coi bốn cách đưới đây là những cách thông dụng trong phân loại tín dụng nông nghiệp: Phân loại theo thời han tín dụng. Nội dung cụ thể của phân loại tín dụng trong kinh doanh nông nghiệp và phát triển nông thôn về thời hạn là: - Tín dụng ngắn hạn: là những khoản tín dụng có thời hạn trong vòng 1 năm như tín dụng theo tháng (0-3 tháng), theo vụ (3-9 tháng).Tín dụng ngắn hạn dùng để bé sung vốn lưu động, chi phí san xuất, lưu thông, dịch vụ. - Tín dụng trung hạn (1-5 năm): thường là những khoản vay để nuôi đại gia súc, trồng cây lưu gốc, đổi mới công nghệ sản xuất, áp dụng tiến bộ khoa học vào sản xuất. - Tín dung dài hạn: thời hạn của tín dụng dài hạn là trên 5 năm.
Tin dụng đài hạn trong nông nghiệp dùng để trồng và chăm sóc cây dài ngày, cây lâm nghiệp, chăn nuôi gia súc cơ bản, mua sắm tàu thuyền, máy móc thiết bị sản xuất, chế biến nông — lâm — thủy hải sản, mở rộng cơ sở sản xuất. Phân loại theo mục đích của khoản nợ. Căn cứ vào mục đích của nợ cũng có những điểm giống như thời hạn vay. Tín dụng ngắn hạn nói chung được dùng để cung cấp “đầu vào” cho sản xuất hàng năm.
Tín đụng trung hạn ding bổ sung tư liệu sản xuất nhỏ, còn tín dung dài hạn dé mua sắm tài sản cố định hoặc thuê hay mua bắt động sản. Mục đích tín dụng thường có quan hệ chặt chẽ với thời hạn tín dụng. Đây là cách phân loại dé hiểu nhất vì mỗi khoán vay đều được gan cho một loại mục đích sử dụng. Những mục đích thông thường là: - Vay sản xuất (ngắn hạn, trung hạn): là những khoản vay để mua các yếu tố “đầu vào” cho sản xuất, trang trải chi phi sản xuất, đổi mới công nghệ in xuất, áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, nuôi đại gia súc.
- Vay dé hình thành tài sản cố định (dài hạn): là những khoản vay dé mua máy móc, thiết bị, trồng cây lâu năm, nuôi gia súc cơ bản.Đây là những khoản vay nhằm tạo ra tài sản cố định trong các cơ sở kinh doanh nông nghiệp.