CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẾN 1. Khai niệm công cụ. Theo Từ điển Tâm lý học của Nguyễn Khắc Viện thì nhu cầu là “Điều can thiết dé bao đảm tổn tại và phát triển.
Được thỏa mãn thì dễ chịu, thiếu hụt thì khó chịu, căng thăng, âm ức. Có nhu cầu của cá nhân , có nhu cầu chung của tập thê, khi hòa hợp khi mâu thuẫn; có nhu cầu cơ bản, thiết yêu, có thứ yếu, giả tạo. Nhu cau đo trình độ phát triển của XH mà biến đổi” [33]. Theo Henry Murray (1893 — 1988) thì nhu cau được hiểu là một tổ chức động cơ, nó tô chức và hướng dẫn các quá trình nhận thức _, tưởng tượng, hành vi.
Nhờ nhu cầu ma hoạt động của con người mang tính chất có mục đích. Do đó hoặc là đạt được sự thỏa mãn nhu cầu _, hoặc là ngăn ngừa sự đụng độ khó chịu với môi trường. Murray cho rằng: sự xuất hiện nhu cầu dẫn đến những thay đôi hóa học trong não và đo tác độ ng của chúng mà diễn ra hoạt động tư duy và tình cảm. Bat kỳ nhu cầu nào cũng gây ra trong cơ thê sự căng thắng nhất định , mà việc giải tỏa nó chỉ băng cách thỏa mãn nhu cau.
Như vậy nhu cầu phóng ra các kiểu hành vi nhất định, mang lại sự thỏa mãn cần tìm [21]. Covaliop tiếp cận khái niệm nhu cầu với tư cách là nhu cầu của nhóm xã hội. Ong cho rằng : “Nhu cau là sự đòi hỏi của các cá nhân và của nhóm xã hội khác nhau muốn có những đ iều kiện nhất định dé sống và dé phat triển. Nhu cầu quy định sựh oat động xã hội của cá nhân, các giai cấp và tập thể”.
Như vậy, dù là nhu cầu cá nhân hay nhu cầu xã hội , nó vẫn là sự biểu hiện mối quan hệ tích cực của con người đối với hoàn cảnh sống. Leonchiev (1903 — 1979) thì nhu cầu là một trạng thái của con người, cần một cái gì đó cho cơ thể nói riêng , con người nói chung sống và hoạt động. Nhu cầu luôn có đối tượng , đối tượng của nhu cầu là vật chất hoặc tinh 18 thần, chứa đựng khả năng thỏa mãn nhu cầu _. Nhu cau có vai trò định hướng đồng thời là động lực bên trong kích thích hoạt động của con người.
Theo Giáo sư — Viện sĩ Phạm Minh Hạc : “Nhu cầu bao giờ cũng là nhu cầu về một cái gì đó. Nhu cầu chỉ có được chức năng hướng dẫn khi có sự gặp gỡ giữa chủ thé và khách thể”. Nhu cau là thành tố quan trọng tạo nên xu hướng nhân cách của cá nhân , cùng với các thành tố khác như hứng thú , niềm tin, thé giới quan, lý tưởng thì nhu cầu là sự bộc lộ ra bên ngoài của xu hướng. Nhìn chung, các quan niệm về nhu cau đã trình bày ở trên đều có sự tương đồng ở nhiều điểm: - Khang định nhu cầu của con người và xã hội là một hệ thống đa dạng, bao gồm nhu cầu tổn tại (ăn uống, duy trì noi giống , tự vệ.), nhu cầu phát triển (học tập, giáo dục, văn hóa.), nhu cầu chính trị, tôn giáo.
Nhu cầu của con ng ười xuất hiện như những đòi hỏi khách quan của xã hội, do xã hội quy định, đồng thời nhu cầu mang tính cá nhân với những biểu hiện phong phú và phức tạp. - Nhu cau là hình thức tổn tại của môi quan hệ giữa cơ thé sống và thế giới xung quanh , là nguồn gốc của tính tích cực, mọi hoạt động của con người đều 1a quá trình tác động vào đối tượng nhằm thỏa mãn nhu cầu nao đó Do vậy, nhu cầu được hiểu là trạng thái cảm nhận được sự cần thiế t của đối tượng đối với sự tồn tại va phát triển của mình _. Nhu cau khi được thỏa mãn sẽ tạo ra những nhu cầu mới ở mức độ cao hơn _ , con người sau khi hoạt động dé thỏa mãn nhu cầu thì phát triển, và nảy sinh ra nhu cầu cao hơn nữa. Và như vậy, nhu cầu vừa được coi là tiền đề , vừa được coi là kết quả của hoạt động.
Nhu cầu là tiền đề của sự phát triển. Trên cơ sở tìm hiểu , phân tích các khái niệm khác nhau về nhu cầu và trong khuôn khổ của đề tài chúng tôi sử dụng định nghĩa củaGS. Nguyễn Quang Uân: “Nhu câu là sự biêu hiện môi quan hệ tích cực của cá nhân đôi với 19 hoàn cảnh, là sự đòi hỏi tất yếu mà con người thay cần được thỏa mãn dé tồnt ại và phát triển” [31]. “Giới là một thuật ngữ xã hội học bắt nguồn từ môn Nhân loại học nói đến vai rò, trách nhiệm và quyên lợi mà xã hội quy định cho nam và nữ, bao gồm việc phân chia lao động, các kiểu phân chia, các nguồn và lợi ích.
Giới đề cập đến các quy tắc tiêu chuẩn theo nhóm tập thể chứ không theo thực tế cá nhân, vai trò giới được xác định theo nhiệm vụ, không theo khía cạnh sinh vật học và có thể biến đổi theo thời gian, theo các xã hội và các vùng địa lý khác nhau. Khi sinh ra chúng ta không mang theo các đặc điểm giới mà chúng ta học được các đặc tính giới từ gia đình, xã hội và nền văn hóa của chúng ta” [10] 1.3 Vai trò giới. Vai trò giới là tập hợp những hoạt động và hành vi ứng xử mà nam giới và phụ nữ học được va thé hiện trong thực tế, dựa trên mong đợi từ phía xã hội ở một người, tùy thuộc người đó là phụ nữ hay nam giới. Các vai trò giới đa dạng (tùy thuộc vào vi trí và bối cảnh), thay đổi theo thời gian (tương ứng với sự thay đôi của các điều kiện và hoàn cảnh) và thay đôi theo sự thay đổi trong quan niệm xã hội (tương ứng với việc chấp nhận hoặc không chấp nhận một hành vi ứng xử vai trò nào đó).
e Vai trò sản xuất: Là những công việc do phụ nữ và nam giới thực hiện nhằm tạo ra thu nhập hoặc dé tự tiêu dùng. Chúng bao gồm các hoạt động tạo ra sản phẩm vật chất, tinh thần hoặc tạo ra những dịch vụ dé dap ứng nhu cầu tiêu dùng của gia đình. 20 e Vai trò tái sản xuất và nuôi dưỡng. Là những hoạt động tạo ra noi giống và tái tạo sức lao động.
Chúng bao gồm việc sinh con, nuôi dạy con, chăm sóc các thành viên khác trong gia đình và làm các công việc nội trợ, giặt git, lau chùi nhà cửa.Các công việc này hầu hết do phụ nữ đảm nhiệm và là những công việc không trả thù lao. e Vai trò cộng đồng, xã hội: Vai trò bao gồm những hoạt động nhằm đảm bảo sự cung cấp và bảo vệ những nguồn lực khan hiếm cho nhu cầu chung của cộng đồng như vệ sinh môi trường, nước sạch, dịch vụ chăm sóc sức khỏe và giáo dục.Đây hầu hết là những hoạt động tình nguyện và không được trả thù lao. Khái niệm “vai trò giới” được áp dụng như là một giá trị xã hội mặc định cho mỗi giới, tác động đến các hoạt động xã hội nói chung và hoạt động tham vấn tâm lý của mỗi giới nói riêng. Từ đó hình thành sự khác biệt giới trong nhu cầu và thực trạng tham vấn tâm lý của mỗi gidi.
Hiệp hội Tham van Hoa Ki (1998) đã định nghĩa tư van là: mối quan hệ giữa một người trợ giúp chuyên nghiệp và người, nhóm người hoặc một chinh thể xã hội cần được giúp đỡ trong đó nhà tư vấn cung cấp sự giúp đỡ cho thân chủ trong việc xác đỉnh và giải quyết một vấn đề liên quan đến công việc hoặc người khác. Theo tài liệu của Tô chức Lao động Quốc tế, tư van là một dịch vụ cho lời khuyên theo hợp đồng và phục vụ cho các tô chức bởi những người có đủ trình độ chuyên môn và được đảo tạo đặc biệt dé giúp đỡ một cách khách quan và độc lập với tổ chức khách hàng. Sức khỏe sinh sản. Theo chương trình hành động của hội nghị Quốc tế về “Dân số và phát triển” họp tại Cairo năm 1994, thì “Sức khỏe sinh sản là trạng thái khỏe mạnh 21 hoàn toàn về thé chat, tinh thần và xã hội chứ không chỉ là là bệnh tật hay 6m yếu trong tất cả mọi thứ liên quan đến hệ thống sinh sản, các chức năng trong quá trình của nó.
Do đó sức khỏe sinh sản hàm ý là con người có thể có một cuộc sống tinh dục thỏa mãn, an toàn, có khả năng sinh san và được tự do quyết định khi nào và thường xuyên như thế nào trong việc này. Điều kiện cuối cùng này ngụ ý muốn nói về quyền của phụ nữ và nam giới được thông tin và tiếp cận các biện pháp kế hoạch hóa gia đình an toàn, hiệu quả, dễ dàng và thích hợp tùy theo sự lựa chọn những phương pháp thích hợp nham điều hòa việc sinh đẻ không trái với pháp luật, quyền được tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe thích hợp giúp cho người phụ nữ trải qua thai nghén và sinh đẻ an toàn va tạo cho các cặp vợ chồng những điều kiện tốt nhất để có đứa con khỏe mạnh [26]. Từ định nghĩa này có thé khang định răng, việc chăm sóc sức khỏe sinh sản là một tổng thể các biện pháp kỹ thuật và dịch vụ góp phần nâng cao sức khỏe và hạnh phúc bằng cách phòng ngừa và giải quyết các vấn đề về sức khỏe sinh sản. Nó cũng bao gồm cả sức khỏe tình dục với mục đích là đề cao cuộc sống và các mối quan hệ riêng tư, chứ không chỉ là việc tư vấn và chăm sóc liên quan đến sinh sản và các bệnh lây truyền qua đường tình dục.
Trong Kế hoạch hành động sau Hội nghị Cairo của Qũi dân số Liên hợp quốc (UNFPA), sức khỏe sinh sản bao gồm sáu nội dung chính có liên quan mật thiết với nhau, đó là: sức khỏe sinh sản, kế hoạch hóa gia đình, sức khỏe phụ nữ và làm mẹ an toàn, vô sinh, bệnh nhiễm khuẩn và bệnh lây truyền qua đường tình dục, tình dục. Nội dung trên của khái niệm sức khỏe sinh sản được xem như các lĩnh vực được tham van tâm ly trong chủ dé sức khỏe sinh sản mà trung tâm tư van Linh Tâm đã thực hiện với khách hàng của họ. Kỹ năng sống. 22 Tổ chức Y tế Thé giới WHO định nghĩa kỹ năng sống là "khả năng thích nghỉ và hành vi tích cực cho phép cá nhân có khả năng đối phó hiệu quả với nhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày".