chương 1 tôi đã khái quát các nội dung về mua sắm và nhu cầu mua sắm của sinh viên. Tôi nghiên cứu trên cơ sở kế thừa các nghiên cứu đi trước đã khái quát và đưa ra một số khái niệm cơ bản như: khái niệm sinh viên, khái niệm mua sắm, khái niệm nhu cầu mua sắm của sinh viên và vấn đề mua sắm của sinh viên: mục đích, phương tiện, thời gian sử dụng. Trên cơ sở đó, nhóm nghiên cứu đề cập đến tác động của mua sắm đến sinh viên với các khía cạnh như: tài chính, kết quả học tập, đời sống hàng ngày. KHẢO SÁT NHU CẦU MUA SẮM CỦA SINH VIÊN LỚP 2205QLNA, KHOA HÀNH CHÍNH HỌC, HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA 2.1 Khái quát về Học viện Hành chính Quốc gia.
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội nay là Học viện Hành chính Quốc gia là cơ sở giáo dục đại học công lập trực thuộc Bộ Nội vụ, được thành lập ngày 14/11/2011, trước đây có tên gọi là Trường Cao đẳng Văn thư Lưu trữ Trung ương I. Tiền thân là Trường Trung học văn thư Lưu trữ Trung ương I, được thành lập năm 1971 theo Quyết định số 109/BT ngày 18/12/1971 của Bộ trưởng Phủ Thủ tướng. Năm 1996, Trường được đổi tên thành Trường Trung cấp Lưu trữ và Nghiệp vụ Văn phòng I.[8] Theo quyết định số 3225/QĐ-BGD&ĐT-TCCT ngày 15 tháng 6 năm 2005 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo được đổi tên trường Trường Cao đẳng Văn thư Lưu trữ Trung ương I. Thứ trưởng Thường trực Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ký Quyết định số 2275/QĐ-BGDĐT đổi tên Trường Cao đẳng Văn thư Lưu trữ Trung ương I thành Trường Cao đẳng Nội vụ Hà Nội đến năm 2011 đổi tên là Trường Đại học Nội vụ Hà Nội.
Bộ trưởng Bộ Nội vụ Phạm Thị Thanh Trà đã ký quyết định số 699/QĐ-BNV phê duyệt Đề án sáp nhập Trường Đại học Nội vụ Hà Nội vào Học viện Hành chính Quốc gia, ngày 01/01/2023 trường chính thức sáp nhập và lấy tên là Học viện Hành chính Quốc gia.[8] Trường Đại học Nội vụ Hà Nội trước đây trực thuộc Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước nhưng từ năm 2005 đến nay trực thuộc Bộ Nội vụ, địa chỉ của trường là Ngõ 36 đường Xuân La, phường Xuân La, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội. Trường đào tạo các ngành nghề như Quản trị nhân lực, Quản trị văn phòng, Quản lý công, Quản lý xã hội, Chính trị học, Chính sách công, Tổ chức và xây dựng chính quyền, Luật, Văn thư, Lưu trữ, Quản lý văn hoá, Hệ thống thông tin, Thư viện, Thư ký văn phòng.[8] Hiệu trưởng là PGS. Cơ cấu tổ chức của trường gồm 4 đơn vị trực thuộc (bao gồm 2 Phân hiệu tại Quảng Nam và Thành phố Hồ Chí Minh); 8 phòng chức năng, 8 khoa, 3 trung tâm.[8] 10 Các khoa (Khoa hành chính học. Khoa quản trị nguồn nhân lực, Khoa quản trị văn phòng, Khoa Pháp luật hành chính, Khoa quản lý xã hội, Khoa văn thư – lưu trữ, Khoa khoa học chính trị, Khoa tổ chức và xây dựng chính quyền).2 Khảo sát tác động của mua sắm đến sinh viên lớp 2205QLNA, khoa Hành chính học, Học viện Hành chính Quốc gia 2.1 Mục đích mua sắm của sinh viên Biểu đồ 2.
Mục đích mua sắm của sinh viên Mục đích mua sắm của sinh viên nhằm đáp ứng nhu cầu học tập, sinh hoạt và sở thích cá nhân, giải trí.1 cho thấy, 38% sinh viên lớp 2205QLNA, HCH, HVHCQG có mục đích mua sắm nhằm đáp ứng nhu sinh hoạt ( quần áo, giày dép, ăn uống,…), 34% mua sắm cho mục đích học tập ( thiết bị học tập, giáo trình, sách,…), 28% mua sắm cho sở thích cá nhân, giải trí. Đây là 3 mục đích được sinh viên lớp 2205QLNA, HCH, HVHCQG lựa chọn, cũng là những mục đích mua sắm của sinh viên. 38% SV mua sắm nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt cho thấy rằng mục đích mua sắm để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt là nhu cầu chính của SV lớp 2205QLNA, HCH, HVHCQG. Điều này cho thấy mua sắm là một phần không thể thiếu trong cuộc sống của sinh viên, mua sắm nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt bao gồm các khoản: thức ăn, quần áo, đi lại, chi phí sinh hoạt hàng ngày.
Việc chi tiêu hợp lý cho mục đích này là rất quan trọng để đảm bảo sinh viên có cuộc sống ổn định, thuận tiện và tiết kiệm chi phí. 11 Bên cạnh đó, 34% SV lớp 2205QLNA, HCH, HVHCQG mua sắm cho mục đích học tập, cho thấy rằng mục đích mua sắm để phục vụ học tập cũng là nhu cầu khá quan trọng của sinh viên, mua sắm giúp SV đạt được mục tiêu học tập của mình, từ việc mua giáo trình, sách tham khảo, tài liệu, đồ dùng học tập. Tuy nhiên, đầu tư vào học tập không chỉ đơn thuần là việc mua sắm. Đó là sự chăm chỉ, nghiêm túc và kiên trì trong việc học tập và rèn luyện.
Chiếm ít nhất, 28% SV lớp 2205QLNA, HCH, HVHCQG mua sắm với mục đích sở thích cá nhân, giải trí, cho thấy sự quan tâm của sinh viên đến việc giải trí và thư giãn sau những giờ học căng thẳng, mua sắm để đáp ứng sở thích cá nhân, giải trí của sinh viên thường được thể hiện qua việc mua quần áo, giày dép, thiết bị công nghệ, sách vở, đồ dùng học tập, đồ trang trí phòng các sản phẩm khác liên quan đến sở thích và giải trí. Điều này cho thấy việc mục đích mua sắm không chỉ đơn thuần là để đáp ứng nhu cầu cơ bản trong cuộc sống mà còn là một phần của phong cách sống của sinh viên. Như vậy, mục đích mua sắm của sinh viên lớp 2205QLNA, HCH, HVHCQG gồm 3 mục đích, nhiều nhất chiếm 38% nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, đứng thứ 2 với 34% SV mua sắm với mục đích học tập, chiếm ít nhất, 28% SV mua sắm cho mục đích sở thích cá nhân giải trí. Bạn N sinh viên lớp 2205QLNA chia sẻ: “ Mục đích mua sắm của mình đơn giản lắm, đa phần mình mua đồ để phục vụ sinh hoạt hàng ngày vì tài chính của mình chưa tự chủ còn phải phụ thuộc gia đình”[ Phụ lục ảnh 1].
Mua sắm để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt là nhu cầu chính của sinh viên, nhưng việc mua sắm để phục vụ mục đích học tập và đáp ứng nhu cầu cá nhân, giải trí cũng rất quan trọng. Sinh viên cần cân nhắc kỹ trước khi mua sắm để tránh lãng phí và ảnh hưởng tới gia đình.2 Phương tiện mua sắm của sinh viên 12 Biểu đồ 2. Phương tiện mua sắm của sinh viên Kết quả khảo từ biểu đồ 2.2 cho thấy rằng, có tới 72% lựa chọn phương tiện mua sắm trực tuyến ( Các sàn thương mại điện tử), 28% lựa chọn phương tiện mua sắm trực tiếp ( Tại các cửa hàng, siêu thị, chợ truyền thống,…). Có thể thấy, mua sắm trực tuyến đang trở thành xu hướng phổ biến đối với sinh viên, có tới 72% SV lớp 2205QLNA, HCH, HVHCQG lựa chọn phương tiện này.
Điều này có thể được lý giải bởi sự tiện lợi và đa dạng các sản phẩm của các sàn thương mại điện tử, khả năng so sánh giá và đánh giá sản phẩm của người mua trên các trang web. Ngoài ra, mua sắm trực tuyến giúp tiết kiệm thời gian và chi phí di chuyển đến các cửa hàng truyền thống. Tuy nhiên, vẫn có 28% SV lớp 2205QLNA, HCH, HVHCQG lựa chọn mua sắm trực tiếp tại các siêu thị, cửa hàng, chợ truyền thống. Cho thấy rằng một số SV vẫn ưa thích mua sắm truyền thống, trực tiếp do cảm giác thoải mái khi trực tiếp trải nghiệm sản phẩm, trách ghặp rủi ro về chất lượng hay giá cả.
Cùng với đó, mua sắm trực tiếp còn giúp sinh viên được hỗ trợ và tư vấn trực tiếp từ nhân viên bán hàng tại cửa hàng, giúp sinh viên có thể tìm hiểu thêm về sản phẩm mình quan tâm và có quyết định mua sắm chính xác hơn. Trao đổi về phương tiện mua sắm của sinh viên, bạn T sinh viên lớp 2205QLNA chia sẻ “ Vì mình thường xuyên sử dụng điện thoại thông minh, nên phương tiện mua sắm mình cũng thay đổi, mua sắm trực tuyến là chân ái vì tính tiện lợi, mình thường mua trên các sàn thương mại điện tử lớn như Shoppe, Lazada, mình ít khi mua trực tiếp, nếu mua mình thường muốn thấy tận mắt 13 sản phẩm nên tới các cửa hàng, hoặc đi mua cùng mẹ vì mẹ mình rất thích săn các đợt khuyến mãi tại các cửa hàng, siêu thị”.[ Phụ lục ảnh 2] Có thể nói, mua sắm trực tuyến đã trở thành phương tiện mua sắm phổ biến đối với sinh viên lớp 2205QLNA, chiếm tỷ lệ lớn hơn so với mua sắm trực tiếp tại các cửa hàng, siêu thị hay chợ truyền thống. Việc mua sắm trực tuyến đem lại nhiều lợi ích cho SV như tiết kiệm thời gian, tiện lợi, có thể so sánh giá cả và lựa chọn được sản phẩm phù hợp nhất. Tuy nhiên, việc mua sắm trực tuyến cũng có những rủi ro như sản phẩm không đúng mô tả, chất lượng kém, giao hàng chậm hoặc không đúng hàng đặt.
Ngoài ra, mua sắm trực tiếp tại các siêu thị, cửa hàng hay chợ truyền thống vẫn là phương tiện mua sắm được một số sinh viên lớp 2205QLNA lựa chọn. Việc mua sắm trực tiếp mang lại cảm giác trải nghiệm thực tế, có thể thử sản phẩm trước khi quyết định mua, cũng như có thể mặc cả giá với người bán. Mua sắm trực tiếp cũng có những hạn chế như tốn thời gian, khó khăn trong việc tìm kiếm sản phẩm, địa điểm mua sắm không thuận tiện.3 Thời gian mua sắm của sinh viên Biểu đồ 2. Thời gian mua sắm của sinh viên Kết quả từ biểu đồ 2.3, cho thấy rằng thời gian mua sắm của sinh viên lớp 2205QLNA, HCH, HVHCQG đa dạng có sự khác nhau rõ rệt.
Có 40% SV mua sắm khi có thời gian rảnh, 32% SV mua sắm vào cuối tuần, sau thời gian học tập, chiếm ít nhất với 28% SV mua sắm vào các đợt khuyến mãi lớn của các sàn thương mại điện tử. Sinh viên thường bận rộn với công việc học tập và các hoạt động khác trong 14 ngày, có 40% SV lớp 2205QLNA mua sắm khi có thời gian rảnh, điều này cho thấy rằng SV cần phải có thời gian và sự thoải mái khi mua sắm, thời gian rảnh, sinh viên mua sắm để giải trí. Ngoài ra, việc mua sắm khi có thời gian rảnh cũng có thể cho thấy sự tích cực của các SV trong việc tìm kiếm các sản phẩm phù hợp với nhu cầu của họ, thay vì mua sắm theo xu hướng hoặc từ các yếu tố khác như bạn bè, gia đình, quảng cáo.