MỞ ĐẦU 1. Lý do c ọn đề t Người đồng tính, song tính và chuyển giới (LGBT) nói chung và vấn đề tình dục đồng giới nói riêng vẫn là vấn đề còn nhạy cảm không chỉ ở Việt Nam mà còn trên toàn thế giới. Mặc dù đây không còn là chủ đề mới mẻ, song thái độ của người dân với người đồng tính, song tính và chuyển giới phần nhiều vẫn còn kỳ thị. Tính đến tháng 8/2013, trên thế giới, mới chỉ có 16 quốc gia (đa phần là ở khu vực châu Âu và châu Mỹ) công nhận hôn nhân đồng giới [70].
Ở các quốc gia còn lại, hành vi tình dục đồng giới bị cấm hoặc nhận được thái độ bàng quan, trung lập. Tại Nga, Brunei, Algeria và Ai Cập, hành vi âu yếm đồng giới nơi công cộng bị phạt tù từ 2 năm trở lên. Tại quốc gia Buma, người đồng tính khi bị phát hiện có thể bị bỏ tù từ 10 năm cho đến chung thân. Thậm chí, tại Iran, Nigeria, Ả rập Saudi và Sudan, hành vi tình dục đồng giới còn bị xử tử hình [55].
Một số quốc gia khác như Hàn Quốc, Paraguay, Việt Nam, thể hiện thái độ trung lập khi đề cập đến vấn đề đồng tính. Chính phủ các nước này không cấm nhưng cũng không ủng hộ [50]. Điều này gián tiếp không thừa nhận sự tồn tại của nhóm thiểu số tình dục, đẩy họ ra ngoài rìa xã hội và trở thành đối tượng dễ bị tổn thương. Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra rằng người đồng tính, song tính và chuyển giới nói chung đã và đang gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình nhận diện, chấp nhận bản thân và hòa nhập với xã hội.
Đặc biệt, người đồng tính được xem là đối tượng thường xuyên phải hứng chịu sự kỳ thị, phân biệt đối xử nếu xu hướng tình dục của họ bị phát hiện [44]. Hành vi bạo lực mà người LGBT là nạn nhân diễn ra không chỉ ở khu vực công cộng, trường học, nơi công sở mà còn ngay ở trong gia đình và bởi chính người thân của họ. Đấu tranh đòi quyền bình đẳng cho người đồng tính, song tính và chuyển giới đang trở thành một phong trào nhân quyền mạnh mẽ diễn ra trên khắp thế giới, thu hút nhiều sự quan tâm của xã hội trong những năm gần đây. Ở Việt Nam, theo ước tính của Viện Kinh tế - Môi trường và Xã hội, số lượng người đồng tính và song tính trong độ tuổi 15-59 rơi vào khoảng 1,65 triệu người – chiếm 3% tổng dân số cả nước [25].
Và mặc dù quan hệ đồng tính ở Việt 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nam không bị tội phạm hóa nhưng sự kỳ thị với những nhóm thiểu số tình dục vẫn còn rất phổ biến. Kết quả của một số nghiên cứu gần đây cho thấy: 87% người dân Việt Nam vẫn đang hiểu sai (ít hoặc nhiều) về người đồng tính và kỳ thị họ [26], và chỉ có 33.7% ý kiến ủng hộ cho phép người đồng tính kết hôn [29]. Chính thái độ tiêu cực này khiến cho cộng đồng LGBT gặp rất nhiều bất lợi trong cuộc sống. Trong cộng đồng người đồng tính, song tính và chuyển giới, đối tượng người đồng tính nữ được đánh giá là một trong những nhóm phải chịu nhiều thiệt thòi hơn cả.
Lý do là vì sự kỳ thị và phân biệt đối xử mà người đồng tính nữ phải trải qua là sự kỳ thị hai tầng: là phụ nữ và là đồng tính. Trong một xã hội có xuất phát điểm là tư tưởng trọng nam khinh nữ và tình trạng bất bình đẳng giới vẫn còn tồn tại như Việt Nam, thì những khó khăn mà người đồng tính nữ phải trải qua càng tăng lên gấp bội. Theo một số nghiên cứu định tính được thực hiện ở Việt Nam [15, 21], người đồng tính nữ thường phải chịu sự kì thị dưới nhiều hình thức: từ lời nói dèm pha, ánh mắt thiếu thiện cảm, dò xét, bị đánh đập, cho đến sự bất công trong việc đánh giá chất lượng công việc, trả lương thấp hơn hoặc gặp khó khăn khi tuyển dụng. Còn theo số liệu tổng hợp của đường dây tư vấn dành cho đồng tính nữ (04.37759335) trong 6 tháng cuối năm 2011, trong 106 trường hợp xin tư vấn thì có tới 28% người đồng tính nữ bị kì thị và bạo lực bởi chính cha mẹ mình, 34% bị kỳ thị và bạo lực bởi những người thân trong gia đình như anh/chị/em, cô, bác, họ hàng [16].
Các dạng bạo lực mà người đồng tính nữ thường gặp phải bao gồm: bị mắng chửi, đánh đập, cô lập, nhốt trong nhà, cắt liên lạc với bên ngoài, bị ép buộc điều trị tâm thần, bắt dùng thuốc trị liệu thần kinh. Tất cả những khó khăn mà người đồng tính nữ gặp phải khi “lộ diện” (come- out) khiến họ không dám sống thật với bản thân, phải giấu kín xu hướng tình dục của mình, cố gắng lấy chồng hoặc sống tách biệt với mọi người. Hậu quả thường thấy nhất là sự căng thẳng về thần kinh, tâm trí chán chường, mất niềm tin vào gia đình, người thân và cuộc sống. Ngoài ra, việc bị kỳ thị và bạo lực ở trường học có thể ảnh hưởng tới kết quả học tập của người đồng tính nữ, làm họ mất hứng thú học tập, không thể tập trung vào bài vở, điểm số sa sút, thậm chí là ngừng học [18].
Trong các nghiên cứu về người đồng tính nữ do trung tâm CSAGA và ISEE triển 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com khai thực hiện năm 2009 cũng đã đề cập đến một số trường hợp người đồng tính nữ từng có ý định tử tử vì không chịu được áp lực do bị kỳ thị và phân biệt đối xử. Điều này đặt ra yêu cầu đối với những người làm CTXH là phải xây dựng hệ thống dịch vụ hỗ trợ phù hợp nhằm đáp ứng nhu cầu của nhóm đối tượng yếu thế này. Ở Việt Nam hiện nay, đã có một số cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ hỗ trợ dành cho người đồng tính nữ. Tuy nhiên, các dịch vụ hỗ trợ này phần lớn được xây dựng dựa trên sự đánh giá chủ quan của nhân viên CTXH về nhu cầu của người đồng tính nữ; chưa có một nghiên cứu cụ thể nào đi sâu tìm hiểu về nhu cầu của họ đối với các dịch vụ hỗ trợ.
Mặt khác, việc đánh giá mới chỉ dừng ở nhóm đối tượng nhỏ là những người hưởng lợi trực tiếp từ dự án, chưa có các nghiên cứu chuyên sâu để đánh giá toàn diện về chất lượng dịch vụ CTXH hiện có đối với người đồng tính nữ. Từ những vấn đề lý luận và thực tiễn nêu trên, tác giả đã chọn đề tài: “Nhu cầu và mức độ tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ của người đồng tính nữ ở Hà Nội từ góc nhìn Công tác xã hội” làm luận văn thạc sĩ Công tác xã hội của mình. Tổn quan vấn đề n n cứu Số lượng các nghiên cứu về người đồng tính – song tính và chuyển giới nói chung và người đồng tính nữ nói riêng nhìn chung vẫn còn ít. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, khi mà phong trào đấu tranh cho quyền của người LGBT trở nên mạnh mẽ, số lượng các nghiên cứu có xu hướng tăng và ngày càng đi sâu khai thác nhiều khía cạnh cuộc sống của nhóm thiểu số tình dục này.
Những nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam, cho đến cuối năm 2009, vẫn còn rất ít các nghiên cứu về người đồng tính – song tính và chuyển giới. Đối tượng LGBT hầu hết chỉ được nhắc đến trong các nghiên cứu liên quan đến HIV và sức khỏe tình dục, chủ yếu tập trung vào hành vi tình dục của những người nam quan hệ tình dục đồng giới (MSM: men have sex with men). Có thể kể đến các nghiên cứu như: “Hành vi tình dục và kiến thức về HIV của MSM” [13] và Tình dục đồng giới nam và HIV/AIDS ở Việt Nam” [43]. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Từ năm 2009 cho đến nay, các nghiên cứu về LGBT đã bắt đầu tìm hiểu các khía cạnh khác trong đời sống của người đồng tính, song tính và chuyển giới, không chỉ bó hẹp trong các nội dung liên quan đến HIV với nhóm đối tượng nam quan hệ tình dục đồng giới như trước.
Mặc dù đa phần các nghiên cứu này chủ yếu vẫn tập trung vào nhóm MSM như: “Nghiên cứu trực tuyến về đặc điểm kinh tế xã hội của nam giới có quan hệ tình dục đồng giới ở Việt Nam” [23], “Kỳ thị và phân biệt đối xử của nhân viên y tế qua cung cấp dịch vụ y tế cho nam quan hệ tình dục đồng giới” [22], “Nghiên cứu về phòng chống bạo lực trong nhóm MSM ở Hà Nội và tp. Các nghiên cứu này đã giúp người đọc phần nào hình dung được những khó khăn mà cộng đồng LGBT nói chung và người đồng tính nữ nói riêng đã và đang phải trải qua. Trong đó, vấn đề nổi cộm nhất vẫn là sự kỳ thị và bạo lực dựa trên xu hướng tình dục của họ. Riêng với các nghiên cứu tập trung vào người đồng tính nữ ở Việt Nam, trong giới hạn hiểu biết và khả năng thu thập tài liệu của tác giả, số lượng các công trình vẫn rất khiêm tốn.
Một số nghiên cứu chủ đạo có thể kể tên như: N n cứu “K ó k ăn v t c t ức tron qu trìn k ẳn địn u ƣớn tìn dục của đồn tín nữ tạ một số tỉn m ền Bắc V ệt Nam” do trung tâm Nghiên cứu Ứng dụng Khoa học về Giới – Gia đình – Phụ nữ và Vị thành niên thực hiện năm 2009. Đây là một nghiên cứu định tính, triển khai phỏng vấn sâu với 23 người đồng tính nữ sống tại Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định và Thái Nguyên. Mục đích của nghiên cứu là nhằm tìm hiểu về đời sống của người đồng tính nữ cũng như những khó khăn mà họ đang gặp phải trong quá trình lộ diện bản thân. Nghiên cứu chỉ ra rằng: ở Hà Nội, nhiều người đồng tính nữ cảm thấy môi trường cộng đồng nói chung còn quá nhiều sự kỳ thị và phân biệt đối xử.
Họ thường gặp phải những lời nói dèm pha, xì xào, bàn tán, ánh mắt thiếu thiện cảm, dò xét, nghi ngờ, cho rằng họ 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đồng tính bởi lối sống đua đòi. Kì thị từ phía gia đình là dữ dội hơn cả, các bậc cha mẹ thường ngăn cấm con cái với mối quan hệ đồng tính bằng nhiều biện pháp, từ nói ngọt nhạt cho đến mắng mỏ, dọa tự tử, đòi từ con. Kì thị nơi làm việc cũng là điều mà nhiều người đồng tính nữ trong nghiên cứu đề cập tới.