Khóa luận Dược sĩ Đào Hồng Nhung: Khảo sát nhiễm khuẩn bệnh viện tại Bệnh viện Hữu Nghị

Khóa luận phân tích tỷ lệ mắc và đặc điểm sử dụng kháng sinh trong điều trị nhiễm khuẩn bệnh viện tại Bệnh viện Hữu Nghị, cung cấp dữ liệu y khoa.

Chuyên ngành

Dược

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2025

102
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về Nhiễm khuẩn Bệnh viện tại Bệnh viện Hữu Nghị

Nhiễm khuẩn bệnh viện là một vấn đề sức khỏe công cộng quan trọng tại các cơ sở y tế, đặc biệt là tại Bệnh viện Hữu Nghị Hà Nội. Hiện nay, tỷ lệ mắc nhiễm khuẩn bệnh viện ở bệnh nhân nội trú ngày càng gia tăng, gây ảnh hưởng lớn đến kết quả điều trị và chi phí khám chữa bệnh. Theo nghiên cứu khảo sát tỷ lệ mắc nhiễm khuẩn bệnh viện tại cơ sở này, những bệnh nhân nằm viện lâu ngày với nhiều can thiệp xâm lấn có nguy cơ cao mắc các loại nhiễm khuẩn. Các vi khuẩn phổ biến bao gồm Pseudomonas aeruginosa, Enterobacteriaceae kháng carbapenem và các tác nhân gây viêm phổi bệnh viện. Việc phân tích tỷ lệ mắc và các yếu tố nguy cơ liên quan không chỉ giúp hiểu rõ tình trạng hiện tại mà còn hỗ trợ xây dựng chiến lược phòng chống hiệu quả.

1.1. Định nghĩa và Đặc điểm của Nhiễm khuẩn Bệnh viện

Nhiễm khuẩn bệnh viện được định nghĩa là nhiễm trùng phát triển sau ít nhất 48 giờ nhập viện hoặc trong vòng 30 ngày xuất viện. Đặc điểm chính bao gồm sự xuất hiện các triệu chứng lâm sàng như sốt cao, mủ từ các vết mổ, hoặc thay đổi trong lâm sàng. Các tác nhân gây bệnh thường là những vi khuẩn đa kháng thuốc, khó điều trị và có khả năng lây lan cao.

1.2. Thực trạng Tỷ lệ Nhiễm khuẩn tại Việt Nam

Tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện tại Việt Nam dao động từ 5-15% ở các bệnh nhân nội trú. Bệnh viện Hữu Nghị, là một trong những cơ sở y tế hàng đầu, cũng ghi nhận tỷ lệ mắc đáng kể. Nghiên cứu khảo sát chi tiết về tỷ lệ mắc và các yếu tố nguy cơ cung cấp dữ liệu quan trọng để cải thiện chất lượng chăm sóc bệnh nhân.

II. Các Yếu tố Nguy cơ và Vi sinh liên quan Nhiễm khuẩn

Các yếu tố nguy cơ liên quan nhiễm khuẩn bệnh viện bao gồm tuổi cao, bệnh lý nền, thời gian nằm viện dài, các can thiệp xâm lấn như đặt ống thở máy, sonde tiểu tiện hay đường truyền tĩnh mạch trung tâm. Bệnh nhân có chỉ số Charlson cao hơn có nguy cơ mắc nhiễm khuẩn tăng đáng kể. Về mặt vi sinh, các tác nhân gây nhiễm khuẩn bệnh viện chủ yếu là Gram âm (Pseudomonas aeruginosa, Enterobacteriaceae) và Gram dương (Staphylococcus aureus kháng methicillin). Việc xác định chính xác các vi khuẩn và mẫu kháng thuốc của chúng là cơ sở để lựa chọn kháng sinh phù hợp trong điều trị.

2.1. Các Yếu tố Nguy cơ Chính

Tuổi cao, bệnh mắc kèm, thời gian nằm viện dài là những yếu tố nguy cơ quan trọng. Ngoài ra, các can thiệp xâm lấn như đặt ống thở máy, sonde tiểu tiện hay đường truyền trung tâm làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn lên gấp 2-3 lần. Bệnh nhân sử dụng nhiều loại kháng sinh trước đó cũng có nguy cơ cao hơn.

2.2. Các Tác nhân Vi sinh Phổ biến

Pseudomonas aeruginosa, Enterobacteriaceae kháng carbapenem (CRE) và Staphylococcus aureus kháng methicillin là những vi khuẩn thường gặp gây nhiễm khuẩn bệnh viện. Những vi khuẩn này có khả năng kháng nhiều loại kháng sinh khác nhau, đòi hỏi chiến lược điều trị phối hợp cẩn thận.

III. Đặc điểm Sử dụng Kháng sinh trong Điều trị Nhiễm khuẩn

Sử dụng kháng sinh trong điều trị nhiễm khuẩn bệnh viện đòi hỏi cách tiếp cận khoa học và hợp lý. Tại Bệnh viện Hữu Nghị, việc lựa chọn kháng sinh thường dựa trên kết quả nuôi cấy và test kháng thuốc. Đối với viêm phổi bệnh việnviêm phổi liên quan thở máy, các lựa chọn bao gồm fluoroquinolone, beta-lactam kết hợp với beta-lactamase inhibitor, hoặc carbapenem. Đối với nhiễm khuẩn tiết niệu, việc sử dụng kháng sinh nên phụ thuộc vào loại vi khuẩn gây bệnh. Nghiên cứu khảo sát đặc điểm sử dụng kháng sinh tại Bệnh viện Hữu Nghị cho thấy có một số trường hợp sử dụng kháng sinh không hợp lý, làm tăng nguy cơ kháng thuốc và tác dụng phụ.

3.1. Tiếp cận Sử dụng Kháng sinh trong Viêm phổi

Viêm phổi bệnh việnviêm phổi liên quan thở máy là những nhiễm khuẩn phổ biến cần điều trị kháng sinh thích hợp. Lựa chọn kháng sinh lần đầu thường là beta-lactam phối hợp hay fluoroquinolone. Sau khi có kết quả nuôi cấy, cần điều chỉnh kháng sinh để giảm phạm vi và tăng hiệu quả.

3.2. Tiếp cận Sử dụng Kháng sinh trong Nhiễm khuẩn Tiết niệu

Nhiễm khuẩn tiết niệu thường được gây bởi Escherichia coli và Klebsiella pneumoniae. Kháng sinh lựa chọn bao gồm fluoroquinolone, cephalosporin thế hệ thứ 3, hoặc nitrofurantoin nếu bệnh nhân không có triệu chứng nặng. Việc đánh giá chính xác loại nhiễm khuẩn rất quan trọng.

IV. Chương trình Giám sát Nhiễm khuẩn Bệnh viện

Chương trình giám sát nhiễm khuẩn bệnh viện là công cụ quan trọng để theo dõi tỷ lệ mắc, xác định các xu hướng và đánh giá hiệu quả các can thiệp phòng ngừa. Bệnh viện Hữu Nghị đã triển khai chương trình giám sát sử dụng phương pháp khảo sát cắt ngang tại thời điểm (Point Prevalence Survey). Phương pháp này cho phép thu thập dữ liệu về tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện trong một khoảng thời gian ngắn, giúp xác định tình trạng hiện tại và các mẫu nhiễm khuẩn phổ biến. Kết quả từ chương trình giám sát không chỉ giúp đánh giá chất lượng điều trị mà còn cung cấp thông tin để cải thiện chiến lược phòng ngừa và sử dụng kháng sinh hợp lý.

4.1. Mục tiêu và Ý nghĩa của Chương trình Giám sát

Chương trình giám sát nhiễm khuẩn nhằm theo dõi tỷ lệ mắc, xác định các tác nhân gây bệnh chính, đánh giá hiệu quả sử dụng kháng sinh và xây dựng các chiến lược phòng ngừa. Ý nghĩa lâu dài là cải thiện kết quả điều trị, giảm chi phí và phòng chống kháng thuốc.

4.2. Phương pháp Khảo sát Cắt ngang tại Thời điểm

Point Prevalence Survey (PPS) là phương pháp thu thập dữ liệu tại một thời điểm cụ thể để xác định tỷ lệ mắc nhiễm khuẩn bệnh viện. Phương pháp này được khuyến cáo bởi các tổ chức quốc tế như CDC và ECCMID, cho phép so sánh dữ liệu giữa các bệnh viện và theo dõi xu hướng theo thời gian.

28/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Tổng quan về nhiễm khuẩn bệnh viện ở bệnh nhân nội trú 1. Nhiễm khuẩn bệnh viện Theo Tổ chức y tế Thế giới (WHO) và Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh (CDC), nhiễm khuẩn bệnh viện (Hospital-acquired infections) hay còn gọi là nhiễm khuẩn liên quan chăm sóc y tế (Healthcare-associated infections) là nhiễm khuẩn mắc phải ở bệnh nhân trong quá trình điều trị và nhiễm khuẩn không ủ bệnh tại thời điểm nhập viện [1], [2]. NKBV được chia ra thành 5 loại nhiễm khuẩn chính: nhiễm khuẩn vết mổ; nhiễm khuẩn tiết niệu; nhiễm khuẩn đường hô hấp; nhiễm khuẩn liên quan đến catheter và nhiễm khuẩn huyết.

Để đơn giản hóa việc xác định ca bệnh mắc NKBV, WHO đã đưa ra các tiêu chuẩn chẩn đoán cho từng loại nhiễm khuẩn bệnh viện thường gặp, từ đó có thể hữu ích cho các cơ sở y tế có điều kiện hạn chế về kỹ thuật chẩn đoán tiên tiến (Bảng 1.1 Phân loại và tiêu chuẩn chẩn đoán nhiễm khuẩn bệnh viện [19] Loại nhiễm khuẩn bệnh viện Tiêu chuẩn chẩn đoán Nhiễm khuẩn vết mổ Xuất hiện dịch mủ chảy ra từ vết mổ, áp xe hoặc viêm mô tế bào lan rộng tại vị trí phẫu thuật trong vòng 30 ngày đầu tiên sau phẫu thuật. Nhiễm khuẩn tiết niệu Kết quả vi sinh cấy nước tiểu dương tính (có 1 hoặc 2 vi khuẩn được phân lập) với số lượng vi khuẩn >= 105 vi khuẩn/ml, và có/ không xuất hiện triệu chứng lâm sàng. Nhiễm khuẩn hô hấp Đáp ứng ít nhất 2 triệu chứng viêm đường hô hấp xuất hiện tại thời điểm nhập viện: - Ho - Có đờm mủ - Chụp X-quang ngực có hình ảnh viêm phổi Nhiễm khuẩn liên quan đến Xuất hiện viêm, viêm mạch bạch huyết hoặc có catheter dịch mủ chảy ra tại vị trí đặt catheter. Nhiễm khuẩn huyết Sốt hoặc rét run và có kết quả vi sinh cấy máu dương tính với tối thiểu 1 tác nhân gây bệnh.

Ngày nay, NKBV là một trong những yếu tố hàng đầu đe dọa tới sức khỏe của bệnh nhân nội trú và gây ra gánh nặng kinh tế nặng nề cho hệ thống y tế của các quốc gia trên thế giới. Theo dữ liệu báo cáo trong giai đoạn 1995 - 2010 của WHO, tỷ lệ NKBV chung ở các quốc gia có thu nhập cao là khoảng 7,6% (hình 1.1), trong khi đó ước tính tỷ lệ NKBV chung ở một số nước thu nhập trung bình - thấp vào khoảng 10,1% (hình 1.2), thậm chí lên tới 15,5 % theo một số nghiên cứu uy tín [3]. Nhiễm khuẩn vết mổ được xác định là loại nhiễm khuẩn phổ biến nhất ở các quốc gia thu nhập trung bình 3 - thấp với tỷ lệ mắc là 11,8 trên 100 bệnh nhân thực hiện phẫu thuật và tỷ lệ NKBV tại khoa Hồi sức tích cực (ICU) cao gấp 2-3 lần so với các nước thu nhập cao. Khảo sát năm 2015, Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ (US CDC) đã xác định có khoảng 687000 bệnh nhân mắc NKBV tại các cơ sở y tế và khoảng 72000 trường hợp đã tử vong trong khoảng thời gian điều trị tại viện [4].

Ở Châu Âu, các cuộc khảo sát cắt ngang tại một thời điểm (Point Prevalence Survey - PPS) về nhiễm khuẩn bệnh viện và sử dụng kháng sinh ở các cơ sở y tế đã được thực hiện qua các năm. Trung tâm Phòng ngừa và Kiểm soát Dịch bệnh Châu Âu (ECDC) đã thực hiện một nghiên cứu khảo sát cắt ngang tại thời điểm (PPS) đầu tiên vào năm 2011 - 2012, ước tính mỗi năm có khoảng 3,2 triệu bệnh nhân mắc NKBV và khoảng 91000 ca đã tử vong được xác định nguyên nhân từ 6 loại NKBV chính bao gồm: viêm phổi, nhiễm khuẩn tiết niệu, nhiễm khuẩn vết mổ, nhiễm khuẩn Clostridioides difficile, nhiễm khuẩn huyết ở trẻ sơ sinh và nhiễm khuẩn huyết nguyên phát [20]. Năm 2016 - 2017, ECDC xác định khoảng 6,5% ca mắc ít nhất 1 NKBV tương ứng với 3,8 triệu bệnh nhân có ít nhất 1 NKBV mỗi năm tại các bệnh viện [21]. So với kết quả khảo sát của 2 giai đoạn trước, tỷ lệ NKBV tăng lên tới 8% ở ECDC PPS thực hiện vào năm 2022 – 2023, tương ứng với 4,3 triệu bệnh nhân mắc ít nhất 1 NKBV [11].

Điều này được giải thích bởi sự xuất hiện của đại dịch COVID-19, tỷ lệ bệnh nhân mắc nhiễm khuẩn bệnh viện liên quan đến COVID-19 chiếm tới 7% trên tổng số ca mắc nhiễm khuẩn bệnh viện. Nhiễm khuẩn hô hấp được xác định là loại nhiễm khuẩn chiếm tỷ lệ cao nhất qua các giai đoạn [11], [20], [21].1 Tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện tại các quốc gia thu nhập cao, theo WHO 1995-2010 [3] 4 Hình 1.2 Tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện tại các quốc gia thu nhập trung bình - thấp, theo WHO 1995-2010 [3] 1. Thực trạng tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện tại Việt Nam Bởi vì chưa có hệ thống giám sát nhiễm khuẩn quốc gia nên dữ liệu về nhiễm khuẩn bệnh viện tại Việt Nam vẫn còn hạn chế và chỉ có một số nghiên cứu khảo sát được thực hiện ở một số cơ sở y tế nhất định. Các điều tra ban đầu về NKBV ở Việt Nam cho thấy tỷ lệ hiện mắc dao động từ 3% đến 7% tùy theo tuyến và hạng bệnh viện [10].

Một số nghiên cứu cụ thể đã ghi nhận các tỷ lệ khác nhau. Khảo sát cắt ngang tại thời điểm quy mô lớn năm 2008 tại 36 bệnh viện Việt Nam cho thấy tỷ lệ NKBV là 7,8% trong số 7571 bệnh nhân nội trú [22]. Tại bệnh viện Đa khoa Hà Đông, tỷ lệ NKBV được ghi nhận là 3,6% vào năm 2019 và tăng lên 4,3% trong một nghiên cứu năm 2020 [7]. Nghiên cứu tại bệnh viện Thanh Nhàn (Hà Nội) giai đoạn 2018-2019 cho thấy tỷ lệ hiện mắc NKBV tổng thể là 6,0% (5,9% năm 2018 và 6,1% năm 2019), với sự khác biệt không đáng kể giữa hai năm [8].

Bệnh viện Đa khoa Đồng Nai báo cáo tỷ lệ NKBV là 2,7% vào năm 2014 [9]. Đáng chú ý, một ước tính cho thấy có tới 30% bệnh nhân nhập viện tại Việt Nam mắc NKBV [23]. Khi so sánh với bối cảnh quốc tế, tỷ lệ NKBV ước tính dao động từ 5,7% - 19,1% ở các nước có thu nhập thấp và trung bình (LMICs) và 5,7% - 7,5% ở các nước có thu nhập cao [3], [20]. Mặc dù sự khác biệt về phương pháp nghiên cứu có thể dẫn đến sự biến động về ước tính tỷ lệ mắc NKBV giữa các nghiên cứu tại các cơ sở y tế nhưng tỷ lệ NKBV tổng thể tại Việt Nam vẫn cao hơn đáng kể so với các nước phát triển.

Xu hướng tăng ở một số bệnh viện, như tại Bệnh viện Đa khoa Hà Đông, cho thấy NKBV vẫn là một thách thức đang diễn ra và cần được theo dõi sát sao. Điều này nhấn mạnh gánh nặng NKBV tại Việt Nam cao hơn mức trung bình của các nước phát triển và có xu hướng tăng ở một số cơ sở. 5 Khi phân tích theo loại hình cơ sở y tế và cấp độ cho thấy có sự khác biệt rõ rệt về tỷ lệ NKBV. Theo tuyến bệnh viện, các bệnh viện tuyến Trung ương thường có tỷ lệ NKBV cao hơn so với bệnh viện tuyến cơ sở [10].

Điều này được giải thích bởi việc các bệnh viện tuyến trên thường tiếp nhận nhiều ca bệnh nặng, phức tạp và thực hiện nhiều thủ thuật, phẫu thuật xâm lấn hơn, làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn. Theo khoa lâm sàng, khoa Hồi sức tích cực luôn là nơi ghi nhận tỷ lệ NKBV cao nhất. Cụ thể, nghiên cứu tại bệnh viện Đa khoa Hà Đông cho thấy tỷ lệ NKBV tại khoa Hồi sức tích cực là 33,3% [7]; nghiên cứu tại 15 ICU ở Việt Nam năm 2015 ghi nhận tỷ lệ NKBV là 29,5% [24] hay nghiên cứu tại ICU bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc năm 2021 cũng cho thấy tỷ lệ NKBV là 31,1% [25]. Như vậy, dữ liệu rõ ràng cho thấy gánh nặng NKBV tập trung vào các khoa hồi sức tích cực và các bệnh viện tuyến trên.

Điều này cho thấy việc phân bổ nguồn lực kiểm soát nhiễm khuẩn (nhân lực, thiết bị, đào tạo) cần được ưu tiên cho các đơn vị có nguy cơ cao để đạt được hiệu quả tối đa trong việc giảm tỷ lệ NKBV. Các nghiên cứu tại Việt Nam đã chỉ ra rằng các loại NKBV phổ biến nhất thường liên quan chặt chẽ đến các thủ thuật và thiết bị y tế xâm lấn. Nhiễm khuẩn hô hấp, đặc biệt là viêm phổi bệnh viện/ viêm phổi liên quan thở máy, được coi là loại NKBV thường chiếm tỷ lệ cao nhất. Nghiên cứu thực hiện tại bệnh viện Đa khoa Hà Đông ghi nhận nhiễm khuẩn hô hấp là phổ biến nhất, chiếm 38,9% tổng số NKBV [7].

Tại bệnh viện Thanh Nhàn, nhiễm khuẩn hô hấp chiếm 37,5% tổng số NKBV, bao gồm nhiễm khuẩn đường hô hấp trên (23,9%) và viêm phổi (13,6%) [8]. Với nhiễm khuẩn vết mổ, theo nghiên cứu đây là loại nhiễm khuẩn phổ biến nhất tại bệnh viện Thanh Nhàn trong nghiên cứu của Trần Thanh Tú và cộng sự (2018 – 2019), chiếm 37,5% [8]. Trong khảo sát năm 2008 tại 36 bệnh viện ở Việt Nam, nhiễm khuẩn vết mổ cũng chiếm tỷ lệ khá cao (27,5%), chỉ đứng sau viêm phổi [22]. Nhiễm khuẩn đường tiết niệu thường đứng thứ hai hoặc ba về tỷ lệ hiện mắc trong các loại NKBV [10].

Nghiên cứu ghi nhận tại khoa Hồi sức tích cực của bệnh viện tỉnh Vĩnh Phúc cho thấy nhiễm khuẩn tiết niệu liên quan ống thông tiểu chiếm 10% với mật độ 10,7/1000 ngày lưu sonde tiểu [25]. Đối với nhiễm khuẩn huyết, khoảng ½ nguyên nhân gây ra nhiễm khuẩn là liên quan đến sự can thiệp vào mạch máu, đặc biệt là đặt catheter tĩnh mạch trung tâm, chiếm khoảng 15% tổng số NKBV và ảnh hưởng trực tiếp tới khoảng 1% bệnh nhân điều trị nội trú [10]. Bên cạnh các loại nhiễm khuẩn phổ biến trên, một số loại nhiễm khuẩn ở vị trí khác như: nhiễm khuẩn tiêu hóa (chiếm 27,8% trong nghiên cứu tại bệnh viện Đa khoa Hà Đông); nhiễm khuẩn da và mô mềm (5,7% trong nghiên cứu của bệnh viện Thanh Nhàn). Sự phổ biến của các loại NKBV này phản ánh trực tiếp việc sử dụng rộng rãi các thủ thuật và thiết bị y tế xâm lấn trong quá trình điều trị.

Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của 6 việc tuân thủ nghiêm ngặt các quy trình vô khuẩn và chăm sóc thiết bị y tế để giảm thiểu nguy cơ NKBV.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ