Phân tích nhân tố ảnh hưởng thanh khoản DN dược niêm yết tại Việt Nam

Phân tích toàn diện các nhân tố ảnh hưởng đến tính thanh khoản của doanh nghiệp dược niêm yết. Luận văn cung cấp số liệu và các hàm ý chính sách.

Trường đại học

Trường Đại học Duy Tân

Chuyên ngành

Kế Toán

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2018

88
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và ý nghĩa của tính thanh khoản doanh nghiệp dược

Tính thanh khoản doanh nghiệp dược là khả năng của các công ty kinh doanh dược phẩm trong việc thanh toán các khoản nợ ngắn hạn khi đến hạn. Đây là một chỉ số tài chính quan trọng phản ánh sức khỏe tài chính của doanh nghiệp. Trong ngành dược, nơi vòng quay hàng tồn kho và chu kỳ chuyển đổi tiền mặt diễn ra phức tạp, tính thanh khoản trở thành yếu tố sống còn. Ý nghĩa thực tiễn của việc duy trì tính thanh khoản tốt giúp doanh nghiệp dược tránh rủi ro vỡ nợ, xây dựng uy tín với các nhà cung cấp và nhà đầu tư. Nó cũng cho phép các công ty dược nhanh chóng tận dụng các cơ hội kinh doanh mới và duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định trong môi trường cạnh tranh khốc liệt.

1.1. Định nghĩa tính thanh khoản

Tính thanh khoản được định nghĩa là khả năng chuyển đổi tài sản thành tiền mặt để thanh toán các khoản nợ hiện hành. Trong doanh nghiệp dược, khái niệm này bao gồm khả năng sử dụng các tài sản lưu động như tiền mặt, phải thu ngắn hạn, hàng tồn kho để đáp ứng các cam kết tài chính ngắn hạn. Các nhà quản lý tài chính cần hiểu rõ rằng thanh khoản cao không nhất thiết có nghĩa là lợi nhuận cao, mà còn phản ánh độ ổn định và linh hoạt tài chính.

1.2. Tầm quan trọng trong ngành dược

Ngành dược có đặc thù riêng với chu kỳ thanh toán dài và nhu cầu vốn lớn. Tính thanh khoản doanh nghiệp dược là yếu tố quyết định khả năng sống còn của công ty khi phải đối mặt với biến động thị trường. Việc duy trì tính thanh khoản hợp lý giúp doanh nghiệp tiếp tục hoạt động bình thường, tránh tình trạng phá sản, đồng thời tạo nền tảng vững chắc cho sự tăng trưởng dài hạn.

II. Các nhân tố ảnh hưởng chính đến tính thanh khoản

Nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng tính thanh khoản doanh nghiệp dược đã xác định nhiều yếu tố quan trọng. Tỷ suất sinh lợi của tài sản (ROA) là chỉ số thể hiện hiệu quả sử dụng tài sản để tạo ra lợi nhuận, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tạo dòng tiền. Tỷ lệ vốn lưu động ròng biểu thị sự cân đối giữa tài sản lưu động và nợ ngắn hạn, là yếu tố then chốt. Quy mô công ty cũng đóng vai trò quan trọng vì các doanh nghiệp lớn thường có tính thanh khoản ổn định hơn. Ngoài ra, tỷ lệ nợ ngắn hạn, vòng quay hàng tồn khosố vòng quay các khoản phải thu là những nhân tố kỹ thuật ảnh hưởng đáng kể đến tính thanh khoản.

2.1. Nhân tố nội bộ Cấu trúc tài chính và quản lý vốn

Cấu trúc tài chính bao gồm tỷ lệ giữa vốn chủ sở hữu và vốn vay, ảnh hưởng trực tiếp đến tính thanh khoản doanh nghiệp dược. Một tỷ lệ nợ cao có thể làm giảm tính thanh khoản. Quản lý vốn lưu động hiệu quả là yếu tố nội bộ quyết định, bao gồm quản lý hàng tồn kho, phải thuphải trả một cách cân bằng.

2.2. Nhân tố bên ngoài Điều kiện kinh tế và thị trường

Điều kiện kinh tế macro như lạm phát, lãi suất ngân hàng ảnh hưởng đến chi phí vay và tính thanh khoản. Tính cạnh tranh của thị trường dược tác động đến khả năng định giá sản phẩm và dòng tiền. Chính sách nhà nước về giá thuốc, quản lý dược phẩm cũng là yếu tố ngoại sinh quan trọng.

III. Các chỉ số đo lường tính thanh khoản doanh nghiệp dược

Để đánh giá tính thanh khoản doanh nghiệp dược, các nhà phân tích sử dụng nhiều chỉ số tài chính khác nhau. Chỉ số thanh toán hiện hành (Current Ratio) là tỷ lệ giữa tài sản lưu động và nợ ngắn hạn, phản ánh khả năng thanh toán ngắn hạn. Chỉ số thanh toán nhanh (Quick Ratio) loại trừ hàng tồn kho, cung cấp cái nhìn thực tế hơn. Chỉ số thanh toán tiền mặt đánh giá khả năng thanh toán bằng tiền thực. Tỷ lệ lưu chuyển tiền thuần là chỉ số quan trọng thể hiện dòng tiền từ hoạt động kinh doanh. Trong ngành dược, các chỉ số này cần được phân tích trong bối cảnh đặc thù của ngành như chu kỳ bán hàng, điều kiện tín dụng của nhà cung cấp và khách hàng.

3.1. Các chỉ số thanh toán truyền thống

Chỉ số thanh toán hiện hành được tính bằng tài sản lưu động chia cho nợ ngắn hạn, giá trị lý tưởng từ 1,5 đến 2,0. Chỉ số thanh toán nhanh loại trừ hàng tồn kho, phản ánh tính thanh khoản thực sự hơn. Trong doanh nghiệp dược, những chỉ số này cần đạt mức tối thiểu để đảm bảo hoạt động bình thường và tránh rủi ro.

3.2. Các chỉ số dòng tiền và hiệu suất

Tỷ lệ lưu chuyển tiền thuần đo lường tiền mặt sinh ra từ hoạt động kinh doanh so với nợ ngắn hạn. Chỉ số ROA (Return on Assets) đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản để tạo lợi nhuận, gián tiếp ảnh hưởng đến tính thanh khoản. Các chỉ số này cung cấp cái nhìn toàn diện hơn về sức khỏe tài chính.

IV. Giải pháp nâng cao tính thanh khoản cho doanh nghiệp dược

Để nâng cao tính thanh khoản doanh nghiệp dược, các nhà quản lý cần áp dụng nhiều giải pháp toàn diện. Quản lý chặt chẽ các khoản đầu tư giúp đảm bảo không sử dụng quá nhiều vốn lưu động cho tài sản cố định. Tăng tỷ lệ vốn chủ sở hữu thông qua lợi nhuận giữ lại hoặc tăng vốn từ nhà đầu tư giúp cải thiện cơ cấu tài chính. Tìm kiếm các nguồn tài trợ dài hạn giảm áp lực từ nợ ngắn hạn. Tăng cường quản lý dòng tiền bằng cách tối ưu hóa chu kỳ chuyển đổi tiền mặt, rút ngắn thời gian thu nợ và kéo dài thời gian thanh toán. Nâng cao năng lực quản trị giúp doanh nghiệp dược hoạt động hiệu quả hơn. Quản lý chặt chẽ các khoản vốn chiếm dụng từ khách hàng cũng là yếu tố quan trọng.

4.1. Chiến lược quản lý vốn lưu động hiệu quả

Quản lý vốn lưu động hiệu quả bao gồm tối ưu hóa hàng tồn kho thông qua dự báo nhu cầu chính xác, áp dụng công nghệ quản lý kho. Rút ngắn thời gian thu nợ bằng chính sách tín dụng khôn ngoan, áp dụng hình thức thanh toán trực tuyến. Kéo dài thời gian thanh toán thông qua đàm phán với nhà cung cấp. Những biện pháp này giúp cải thiện tính thanh khoản mà không làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh.

4.2. Cơ cấu lại nguồn tài chính và tăng cường quản trị

Cơ cấu lại nguồn tài chính bằng cách giảm tỷ lệ nợ ngắn hạn, chuyển sang tài chính dài hạn. Tăng vốn chủ sở hữu thông qua lợi nhuận giữ lại hoặc phát hành cổ phiếu mới. Nâng cao năng lực quản trị qua đào tạo cán bộ, áp dụng công nghệ quản lý tài chính, xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ toàn diện.

22/12/2025
Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến tính thanh khoản của các doanh nghiệp dược niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÍNH THANH KHOẢN VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TÍNH THANH KHOẢN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP 1. LÝ THUYẾT CHUNG VỀ TÍNH THANH KHOẢN CỦA DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về tính thanh khoản Tính thanh khoản là một khái niệm chỉ mức độ mà một tài sản bất kỳ có thể được mua hoặc bán trên thị trường mà không làm ảnh hưởng đến giá trị thị trường của tài sản đó. Ví dụ, chứng khoán hay các khoản nợ, khoản phải thu.

có khả năng chuyển đổi thành tiền mặt dễ dàng, thuận tiện cho việc thanh toán hay chi tiêu. Các cách gọi khác của tính thanh khoản là: Tính lỏng, tính lưu động. Một tài sản gọi là thanh khoản khi mà thị trường của tài sản đó có nhiều người mua và người bán, tài sản có tính thanh khoản cao thường được đặc trưng bởi số lượng giao dịch lớn và khi tính thanh khoản của tài sản càng cao thể hiện mức độ rủi ro đầu tư và tài sản đó càng thấp. Trong kế toán, tài sản được chia thành nhiều loại khác nhau và được xếp theo tính thanh khoản từ cao đến thấp.

Trong đó, tiền có tính thanh khoản cao nhất, luôn luôn dùng được để thanh toán trực tiếp, lưu thông, tích trữ. Còn hàng tồn kho có tính thanh khoản thấp so với các tài sản lưu động khác vì phải trải qua giai đoạn phân phối và tiêu thụ chuyển thành khoản phải thu, rồi từ khoản phải thu sau một thời gian mới chuyển thành tiền mặt. Chứng khoán có tính thanh khoản là những chứng khoán có sẵn thị trường cho việc bán lại dễ dàng, giá cả tương đối ổn định theo thời gian và khả năng cao để phục hồi nguồn vốn đã đầu tư nguyên thủy của ngân hàng. 11 Khi lựa chọn chứng khoán để đầu tư, ngân hàng dứt khoát phải xem xét đến khả năng bán lại trước khi chúng đáo hạn để tái tạo nguồn vốn đầu tư ban đầu.

Nếu khả năng tái tạo kém, nghĩa là khó tìm được người mua hoặc phải bán mất giá, ngân hàng sẽ gánh chịu những tổn thất tài chính lớn. Và điều này gọi là rủi ro thanh khoản trong đầu tư chứng khoán. Nhờ có thị trường chứng khoán các nhà đầu tư có thể chuyển đổi chứng khoán họ sở hữu thành tiền mặt khi họ muốn và khả năng thanh khoản chính là một trong những đặc tính hấp dẫn của chứng khoán với các nhà đầu tư. Tính thanh khoản cho thấy sự linh hoạt và an toàn của vốn đầu tư, thị trường hoạt động càng năng động và hiệu quả thì tính lỏng của chứng khoán giao dịch càng cao.

Có mối quan hệ chặt chẽ giữa chỉ số P/E và tính thanh khoản của chứng khoán. Chỉ số P/E cho thấy giá cổ phiếu hiện tại cao hơn thu nhập từ cổ phiếu đó bao nhiêu lần, hay nhà đầu tư phải trả giá cho một đồng thu nhập là bao nhiêu. Nếu P/E cao có nghĩa là nhà đầu tư dự kiến tốc độ tăng cổ tức cao trong tương lai của cổ phiếu đó. Nhìn vào bảng thống kê tính thanh khoản của cổ phiếu, nhà đầu tư dễ dàng nhận ra những cổ phiếu giao dịch sôi động nhất cũng là những cổ phiếu có P/E cao hơn mức trung bình của thị trường.

Đây là những chứng khoán có tốc độ tăng giá cao và mang lại giá trị thặng dư cao cho cổ đông thông qua việc chi tách cổ phiếu hay phát hành cổ phiếu mới. Nhìn chung, hầu hết các công ty đều đầu tư vào các tài sản có tính thanh khoản cao, nhất là đầu tư vào tài sản lưu động. Tài sản lưu động tạo thành một bộ phận đáng kể trong tổng tài sản và có ý nghĩa quan trọng hơn đối với các rủi ro và hiệu quả của công ty. Ví dụ, theo Kim, David và Ann tỷ lệ trung bình của tiền mặt cộng với chứng khoán thị trường trên tổng tài sản trong giai đoạn năm 1975 đến năm 1994 của 915 công ty ngành công nhiệp ở Mỹ là 8,1%.

Kim và các cộng sự đã phân tích các chi phí và lợi ích của việc nắm giữ 12 các loại tài sản lưu động và kết luận rằng việc đầu tư vào tài sản lưu động (chẳng hạn như đầu tư vào chứng khoán) là tốn kém hơn, vì đầu tư vào tài sản lưu động nghĩa là các công ty chấp nhận chi phí cơ hội cho việc đầu tư vào tài sản dài hạn; hơn nữa, các công ty cũng phải chịu chi phí giao dịch cho việc kinh doanh chứng khoán tài chính. Tuy nhiên các công ty này nắm giữ một lượng đáng kể tài sản lưu động và được dự đoán là dư thừa quá mức bởi vì sự không hoàn hảo của thị trường vốn dẫn đến việc phải duy trì một lượng tài sản lưu động dư thừa để giải quyết một số trường hợp khẩn cấp (Kim, David và Ann, 1998) [10]. Cụ thể, khi và chỉ khi các nguồn tài chính bên ngoài là tốn kém thì việc đầu tư vào tài sản lưu động là câu trả lời thuận lợi nhất để tài trợ cho nhu cầu sản xuất trong tương lai hoặc cơ hội đầu tư. Các chi phí tài chính bên ngoài bao gồm các chi phí trực tiếp phát hành chứng khoán, các chi phí phát sinh từ mâu thuẫn nội bộ tiềm ẩn, chi phí phát sinh từ những vấn đề lựa chọn bất lợi do thông tin bất đối xứng (Smith, 1986).

Myers và Majluf [17], cũng cho rằng vì thông tin tài chính hạn chế do bất đối xứng thông tin gây ra, các công ty nên tăng dự trữ tài sản lưu động để tài trợ cho các cơ hội đầu tư trong tương lai với các quỹ nội bộ. Do đó, đầu tư vào thanh khoản dư thừa có thể được xem như là một chi phí có hiệu quả và hợp lý để giảm sự phụ thuộc của công ty vào chi phí tài chính bên ngoài tốn kém. Theo Van Horne và David [19], thanh khoản có thể được diễn tả như khả năng nhận ra giá trị của phương tiện được chấp nhận trong sự trao đổi. Là phương tiện được chấp nhận để trao đổi, tiền là tài sản thanh khoản cao nhất và cũng là một chuẩn mực cho việc kiểm soát giá trị của các loại tài sản khác được so sánh như mức độ thay thế của nó.

Ngoài ra, theo Van Horne và David có hai thước đo về mức độ thanh khoản: một là, thời gian cần thiết để chuyển 13 đổi tài sản thành tiền; hai là, sự chắc chắn của giá thực hiện, tức là, sự ổn định của tỷ lệ trao đổi giữa tiền và tài sản. Trong thế giới kinh doanh, tồn tại nhu cầu cao về tính thanh khoản của công ty, và trên thực tế các doanh nghiệp thuộc ngành tài chính và công nghiệp quản lý các nhu cầu thanh khoản theo nhiều cách để thực hiện các kế hoạch sản xuất và đầu tư trong tương lai một cách hiệu quả mà không bị đình trệ bởi sự thiếu hụt thanh khoản nhất thời. Nhà đầu tư có thể hiểu được khả năng thanh khoản bằng cách phân tích các báo cáo tài chính của một công ty. Các chỉ tiêu tài chính sau được yêu cầu phải xác định được để có thể đánh giá khả năng thanh khoản của một công ty: Tài sản ngắn hạn và Nợ ngắn hạn.

Một công ty có thể đầu tư tài chính của mình bằng cách kết hợp các nguồn hạn hiện tại và lâu dài khác nhau. Nói cách khác, một công ty có thể đầu tư tiền, được huy động thông qua nguồn ngắn hạn hoặc dài hạn, trong các tài sản ngắn hạn hoặc tài sản dài hạn. Một số các chiến lược kinh doanh có liên quan như sau: • Tài trợ tài sản ngắn hạn bằng các nguồn ngắn hạn. • Tài trợ tài sản ngắn hạn bằng các nguồn dài hạn.

• Tài trợ tài sản dài hạn bằng các nguồn ngắn hạn. • Tài trợ tài sản dài hạn bằng các nguồn dài hạn. Nhà đầu tư có thể nhận ra các chính sách trên bằng cách xem xét các chỉ tiêu trên bảng cân đối hoặc xác định vốn lưu động của công ty. Ngoài ra, thông qua việc xác định vốn lưu động ròng nhà đầu tư có thể tìm hiểu khả năng thanh toán của công ty, cũng như cho thấy các quyết định tài chính và đầu tư của công ty.

14 Vốn lưu động ròng là phần dư của tài sản ngắn hạn so với nợ ngắn hạn (Tài sản ngắn hạn – Nợ ngắn hạn). Vốn lưu động ròng của một công ty có thể xảy ra với một trong những trường hợp sau: Vốn lưu động ròng > 0: Tài sản ngắn hạn lớn hơn Nợ ngắn hạn Vốn lưu động ròng < 0: Nợ ngắn hạn lớn hơn Tài sản ngắn hạn Vốn lưu động ròng = 0: Tài sản ngắn hạn bằng Nợ ngắn hạn Thông thường, thanh khoản của một công ty được đánh giá là tốt khi có vốn lưu động ròng dương. Điều này là hợp lý, vì khi vốn lưu động ròng dương thì có thể dễ dàng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn bằng các tài sản ngắn hạn hiện có của công ty. Xem xét mối quan hệ giữa vốn lưu động với các thành phần khác trên bảng cân đối kế toán: Nguồn vốn = Tài sản; hoặc Vốn chủ sở hữu + Vay và nợ dài hạn + Nợ ngắn hạn = Tài sản ngắn hạn + Tài sản dài hạn; hoặc Nguồn vốn thường xuyên + Nợ ngắn hạn = Tài sản ngắn hạn + Tài sản dài hạn; hoặc Nguồn vốn thường xuyên – Tài sản dài hạn = Tài sản ngắn hạn – Nợ ngắn hạn; hoặc Nguồn vốn thường xuyên – Tài sản dài hạn = Vốn lưu động ròng.

Như vậy, quản lý vốn lưu động không chỉ thông qua quản lý tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn, mà còn có thể thông qua quản lý các nguồn vốn thường xuyên (nguồn vốn dài hạn) và tài sản dài hạn. Nói cách khác, tính thanh khoản của một công ty có thể được quản lý bằng cách quản lý tài sản ngắn hạn, nợ ngắn hạn, tài sản dài hạn và nguồn vốn dài hạn. Lý thuyết ưa chuộng về khả năng thanh khoản Lý thuyết ưa chuộng tính thanh khoản là một trong những lý luận liên quan đến nhu cầu tiền tệ lần đầu tiên được nêu ra bởi John Maynard Keynes trong tác phẩm nổi tiếng của mình là “The General Theory of Employment, Interest and Money” (Lý thuyết tổng quát về Việc làm, Lãi suất và Tiền tệ) và trở thành một trong những lý luận quan trọng của kinh tế học Keynes. Tác phẩm đã diễn đạt toàn diện nhất tư tưởng kinh tế của Keynes [6], được giới kinh tế học phương Tây đánh giá như một cuộc cách mạng trong kinh tế học bởi sự mới mẻ trong tư tưởng kinh tế của ông.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ