Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHỞI SỰ KINH DOANH ĐỐI VỚI SINH VIÊN 1. Tổng quan về khởi sự kinh doanh 1. Các khái niệm về khởi sự kinh doanh Khởi sự kinh doanh Hoàng Phê (2005, trang 1024) cho rằng: “Khởi sự là bắt đầu một cái gì mới” [8]. Từ đây, có thể hiểu Khởi sự kinh doanh (KSKD) là việc bắt đầu tạo lập một công việc kinh doanh mới, dựa trên những nền tảng mới hoặc nền tảng đã có, song không còn phù hợp nữa.
Nghiên cứu về KSKD chia ra làm hai ngành rõ rệt, đó là ngành quản trị nhân lực (hoặc kinh tế lao động tại 1 số trường phái) và quản trị kinh doanh. - Đối với quan điểm về quản trị nhân lực, thì KSKD chỉ đơn giản là việc một cá nhân sẽ phải lựa chọn cách mà mình sẽ tiếp cận công việc: hoặc trở thành một thành phần của doanh nghiệp, tổ chức nào đó (quan điểm này có thể dùng với từ “đi làm thuê”) hoặc tự đứng ra kinh doanh riêng biệt mà không phụ thuộc vào đơn vị nào (quan điểm này có thể dùng với từ “tự làm chủ”) (theo Nguyễn Quang Dong, 2013) [1]. Cách hiểu này tuy không sai, song chỉ nhìn trên một góc độ rất rộng rằng, mỗi cá nhân sẽ tự tìm cho mình một công việc nhằm đảm bảo cuộc sống. Đây là quan điểm phổ biến tại các nước có nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung trước đây, và thậm chí còn dai dẳng đến khi các nước này trở thành các nước có nền kinh tế chuyển đổi.
Thời điểm hiện tại, các tác giả trong lĩnh vực quản trị nhân lực ít khi chấp nhận quan điểm rộng như thế, mà chỉ bó hẹp trong quan điểm tự làm chủ (Trần Thọ Đạt, 2017) [3]. Trong lĩnh vực quản trị kinh doanh, KSKD cũng có cách hiểu khác nhau, và đều gắn với thuật ngữ “tinh thần doanh nhân”. Nếu hiểu theo nghĩa hẹp nhất thì KSKD là việc cá nhân tự sử dụng những nguồn lực khác nhau để có thể tự 13 nuôi sống được chính mình, bao gồm cả nhân lực, vật lực và tài lực. Nếu theo nghĩa rộng nhất thì KSKD dựa trên tinh thần doanh nhân là việc các cá nhân – bằng thái độ tích cực của mình – có tác động đến môi trường kinh doanh để tiến hành các hoạt động tự đổi mới, tự phát triển.
Các hoạt động KSKD tiến tới tinh thần làm chủ, dựa trên tìm ra ngành nghề mới, hoặc phát triển dựa trên lĩnh vực mới, hoặc dựa trên những nền tảng sẵn có mà phát triển. Ngày nay, quan điểm về quản trị chiến lược đều tập trung vào hướng thứ hai để phát triển các hoạt động của chính mình. Tuy nhiên, quan điểm này quá rộng, và thường tập trung vào các chiến lược phát triển một ngành, một lĩnh vực nào đó. Do đó, KSKD trong luận văn sẽ được hiểu theo nghĩa hẹp của từ tinh thần doanh nhân, tức là KSKD là việc một cá nhân sẽ sử dụng các nguồn lực của thị trường và của chính bản thân mình để phát triển một hoạt động mới.
Người khởi sự kinh doanh Người KSKD có nhiều cách định nghĩa. Theo quan điểm rộng nhất thì người KSKD là người sử dụng những nguồn lực của thị trường để phát triển một công việc mới, không dựa vào các nguồn lực sẵn có. Kim et al (1993) cho rằng người KSKD là người sẽ phát triển hoạt động kinh doanh mới dựa trên các loại rủi ro trên thị trường [26]. Tuy nhiên, quan điểm này rất khó chấp nhận, vì hoạt động nào cũng hàm chứa rủi ro.
Nguyễn Quang Dong (2016) cho rằng người KSKD là người tạo dựng doanh nghiệp mới và phát triển kinh doanh, họ năng động trong các hoạt động kinh tế, quản trị các thay đổi về công nghệ thông tin và tổ chức trong doanh nghiệp, tạo dựng văn hóa đổi mới và học tập trong doanh nghiệp. Do hạn chế của luận văn, tác giả cũng chỉ quan niệm rằng người KSKD là người bắt đầu một công việc kinh doanh mới trên tinh thần “tự làm chủ” [2]. 14 Các loại hình khởi sự kinh doanh Có nhiều hướng để KSKD, và cũng có nhiều cách khác nhau để phân loại KSKD. Theo tổng hợp của tác giả thì có những cách phân loại sau: - Phân loại theo động cơ: + KSKD để nắm bắt cơ hội: Baughn (2006) cho rằng KSKD là việc tận dụng các cơ hội kinh doanh để làm giàu trong điều kiện nguồn lực có hạn bằng việc khởi xướng các hoạt động sáng tạo.
[17] + KSKD vì cần thiết: quan điểm này cho rằng, các cá nhân trên thị trường bị bắt buộc phải tạo ra một công việc kinh doanh mới vì một lý do nào đó. Thường thì tại các nước có nền kinh tế chuyển đổi, quan điểm về vai trò trọng tâm của kinh tế nhà nước nhạt dần đi, và quá trình cổ phần hóa hoặc thoái vốn nhà nước – cùng với cơ chế quản lý kém đã làm cho một lượng lớn cá nhân trong nền kinh tế bị mất việc làm. Không có việc, đồng nghĩa với không có thu nhập, trong khi vẫn phải chi tiêu các khoản khác, làm cho cá nhân buộc phải KSKD để tìm kiếm các cơ hội tạo ra tiền trên thị trường. Người KSKD trong trường hợp này rơi vào thế bị động, trong khi những người KSKD theo quan điểm chủ động lại phát hiện cơ hội thường phát triển hoạt động kinh doanh mới đưa ra thị trường những sản phẩm và dịch vụ mới, tạo ra giá trị mới và mang giá trị đó đến đông đảo người tiêu dùng bằng cách sáng tạo và tận dụng những nguồn lực sẵn có (Chen et al.
- Phân loại theo số lượng người tham gia khởi sự kinh doanh: + Khởi sự kinh doanh bằng cách bản thân độc lập tự tạo dựng, thực hiện kinh doanh. + Khởi sự kinh doanh bằng cách hình thành một nhóm người cùng mục tiêu, ý tưởng, cùng nhau tạo dựng, thực hiện kinh doanh. - Phân loại theo mục đích khởi sự kinh doanh: + Khởi sự kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận + Khởi sự kinh doanh vì mục tiêu phi lợi nhuận 15 Như vậy, dù phân loại theo tiêu chí nào thì khởi sự kinh doanh đều là công việc phù hợp với những cá nhân ưa mạo hiểm, thử thách và luôn tìm kiếm sự sáng tạo. Những đặc điểm này rất phù hợp với đối tượng là sinh viên đại học – những người đang trong giai đoạn suy nghĩ, tìm kiếm và lựa chọn nghề nghiệp cho tương lai, đang có nhu cầu muốn nắm bắt, tận dụng các cơ hội nghề nghiệp và tạo dựng sự nghiệp cho bản thân.
Đối với các trường đại học về kinh tế thì sinh viên có nguyện vọng rất lớn trong việc muốn tạo ra một tổ chức kinh doanh mới, kiếm được lợi nhuận cao bằng việc tận dụng thị trường hiện có. Qua những đặc điểm này, càng cho thấy việc lựa chọn đối tượng nghiên cứu là sinh viên Học viện Ngân hàng là hoàn toàn phù hợp. Vai trò của Khởi sự kinh doanh Quan điểm của KSKD tại Việt Nam mới chỉ phát triển mạnh trong gần 10 năm trở lại đây. Trong giai đoạn bao cấp (trước năm 1986), các quan điểm về kinh doanh bị phê phán nặng nề, là “tư hữu tiểu tư sản”, là “bóc lột giai cấp”, là “đi ngược lại với lợi ích của nhân dân lao động” (trích dẫn lại của Đặng Phong, 2013 trong Phạm Văn Hùng, 2015) [4].
Thời điểm này, gần như chỉ những cá nhân “liều lĩnh” mới dám KSKD và phát triển các hoạt động sản xuất kinh doanh. Sau khi đổi mới, một vài doanh nghiệp đã dần có tiếng trên thị trường, song, trong nền kinh tế chuyển đổi, quan điểm “làm việc tại các cơ quan nhà nước mới tốt, mới đáng được trọng vọng” đã vô cùng ăn sâu vào một thế hệ người Việt. Sau khi có những nghiên cứu và thành công trên thế giới, mà điển hình tại Singapore, thì vai trò của KSKD mới được chú ý. Trong giai đoạn đầu, KSKD toàn bộ tập trung vào quan điểm “trở thành bộ phận của doanh nghiệp”, vì cho rằng các doanh nghiệp lớn mới có khả năng chiếm giữ thị trường.
Về sau, khi các doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển, và chiếm giữ một thị trường lớn – chủ yếu trong mảng sản xuất và phân phối nhỏ - thì quan điểm này dần thay đổi, và các nhà nghiên cứu chú ý dần đến nguồn lực để KSKD, trong đó có vốn KSKD. Vốn KSKD – đặc biệt trong các nền kinh tế như Việt Nam – là khả năng tạo ra bao nhiêu nguồn để các cá nhân có thể KSKD, dựa trên quan điểm của nhà nước về vấn đề này. Quan điểm này dựa vào lý thuyết về kinh tế học thể chế để 16 phát triển. Và cũng dựa trên vốn KSKD thì KSKD lại có tác động ngược lại đến phát triển kinh tế.
Theo Carree và Thurik (2003), hoạt động KSKD trong nền kinh tế tạo động lực cho phát triển kinh tế xã hội, những nơi có tỷ lệ thành lập doanh nghiệp cao thường có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao [15]. KSKD góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững trên 3 phương diện: tăng cường đổi mới và chuyển giao tri thức, tăng cạnh tranh và tăng cường mức độ đa dạng hóa trong ngành và trong doanh nghiệp. Tầm quan trọng của khởi sự kinh doanh trong việc tăng trưởng kinh tế và thay đổi công nghệ luôn được đưa ra để tranh luận và bàn cãi trong suốt nhiều năm qua, thông qua các nhận định sau: Thứ nhất, KSKD giúp đẩy nhanh quá trình khai thác các cơ hội kinh doanh trong nền kinh tế, từ đó giúp phát triển một ngành nào đó. Từ đây, khi một ngành có cơ hội phát triển thì sẽ đẩy nhanh quá trình phát triển những ngành có liên quan.
Thành lập doanh nghiệp mới là cơ sở cho gia tăng việc khai thác, vận dụng các tri thức mới một cách hiệu quả hơn. Lý thuyết về phát triển và truyền bá tri thức mới cho rằng, hoạt động này sẽ giúp các cá nhân trên thị trường tìm kiếm được các cơ hội khác nhau, từ đó hình thành nên các doanh nghiệp mới – vừa tạo ra thu nhập của chính chủ sở hữu, vừa tạo ra công ăn việc làm và mạng lưới cung cấp cho các doanh nghiệp sản xuất. Từ đây, các hoạt động KSKD sẽ có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, một số nhà nghiên cứu lại không đồng ý với các nghiên cứu này, vì hiện tại, ở các thị trường mới nổi và các thị trường có nền kinh tế chuyển đổi thì số người KSKD rất lớn, và thất bại tương đối lớn (trên 80% người KSKD thất bại – theo Trần Thọ Đạt, 2017), và lại trở thành lực cản cho nền kinh tế [4].