Tổng quan nghiên cứu

Tính đến tháng 9 năm 2020, Việt Nam đã tham gia 16 hiệp định thương mại tự do, trong đó 13 hiệp định đã ký kết và 3 hiệp định đang đàm phán. Bối cảnh hội nhập sâu rộng này mở ra cơ hội mở rộng thị trường cho doanh nghiệp xuất khẩu, đồng thời tạo sức ép cạnh tranh chưa từng có. Tiền Giang - tỉnh vừa thuộc Đồng bằng sông Cửu Long, vừa nằm trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam - là một trường hợp điển hình. Trong quý I năm 2019, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa toàn tỉnh đạt gần 643 triệu USD, tương đương 21,4% kế hoạch năm và tăng 14,5% so với cùng kỳ 2018. Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đóng góp gần 492 triệu USD, tăng 22%.

Vấn đề đặt ra là các nghiên cứu quốc tế về nhân tố ảnh hưởng đến kết quả xuất khẩu không thể áp dụng nguyên trạng cho Việt Nam do khác biệt về thể chế, pháp luật, trình độ phát triển kinh tế và điều kiện địa lý. Tại Tiền Giang, chưa có nghiên cứu nào bao quát toàn bộ doanh nghiệp xuất khẩu trong tỉnh.

Luận văn thạc sĩ "Những nhân tố ảnh hưởng đến kết quả xuất khẩu của các doanh nghiệp tỉnh Tiền Giang" của tác giả Trần Quang Trung, chuyên ngành Kinh tế Quốc tế (mã số 8310106), Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, dưới sự hướng dẫn của TS. Mai Thị Cẩm Tú, hoàn thành năm 2020.

Mục tiêu nghiên cứu gồm ba nội dung: hệ thống hóa lý thuyết và đề xuất mô hình nghiên cứu; xác định, đo lường mức độ tác động của từng nhân tố; đề xuất hàm ý quản trị cho doanh nghiệp xuất khẩu địa phương. Phạm vi không gian là tỉnh Tiền Giang, thời gian nghiên cứu từ tháng 3/2018 đến tháng 6/2019, trong đó giai đoạn khảo sát kéo dài từ tháng 3/2018 đến tháng 10/2018. Ý nghĩa thực tiễn nằm ở việc cung cấp bộ thang đo đã được kiểm định để các cơ quan quản lý và doanh nghiệp tham chiếu khi hoạch định chiến lược, trong bối cảnh giá trị xuất khẩu toàn tỉnh năm 2020 ước đạt 3,4 tỷ USD với tốc độ tăng bình quân giai đoạn 2016-2020 khoảng 16%.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng trên hai trụ cột lý thuyết đối trọng. Thứ nhất là lý thuyết dựa trên nguồn lực (resource-based view), giải thích nhóm nhân tố nội bộ: năng lực, quy mô, công nghệ và kinh nghiệm quốc tế của doanh nghiệp là cơ sở hình thành lợi thế cạnh tranh bền vững. Thứ hai là lý thuyết tổ chức công nghiệp (industrial organization), giải thích nhóm nhân tố bên ngoài không thể kiểm soát: đặc điểm ngành, môi trường pháp lý - chính trị nước nhập khẩu và điều kiện thị trường trong nước.

Bốn mô hình nền tảng được khảo lược: Gemunden (1991) tổng hợp 50 nghiên cứu giai đoạn 1964-1987 với hơn 700 chỉ số trên hơn 9.000 công ty xuất khẩu tại 18 quốc gia; Zou và Stan (1998) đề xuất khung 7 nhân tố phân loại theo hai trục nội bộ/bên ngoài và kiểm soát được/không kiểm soát được; Sousa và cộng sự (2008) phân đôi thành mô hình dựa vào tài nguyên và mô hình dự phòng; Chugan (2014) tổng hợp giai đoạn 1980-2012.

Tác giả kế thừa mô hình Chugan (2014) làm khung phân tích chính, với lý do Chugan sử dụng cấp độ doanh nghiệp (firm) làm đơn vị phân tích thay vì liên doanh xuất khẩu (export venture) như Cavusgil và Zou (1994) - cách tiếp cận phù hợp với doanh nghiệp vừa và nhỏ có dòng sản phẩm và thị trường xuất khẩu hạn chế, đúng đặc thù Tiền Giang.

Các khái niệm chính gồm: kết quả xuất khẩu (export performance) - theo Cavusgil và Zou (1994) là mức độ đạt được mục tiêu kinh tế và chiến lược thông qua hoạch định marketing; đo lường đa chiều - Diamantopoulos (1998) khẳng định kết quả xuất khẩu "phức tạp và không thể đo lường bởi bất kỳ chỉ số riêng lẻ nào"; thang đo tài chính (doanh số, lợi nhuận, tốc độ tăng trưởng trong 3-5 năm) và thang đo phi tài chính (nhận thức, mức độ đạt mục tiêu, sự hài lòng) theo Zou và Stan (1998).

Năm giả thuyết được đặt ra: H1 - Đặc điểm doanh nghiệp; H2 - Năng lực quản lý; H3 - Chiến lược marketing xuất khẩu; H4 - Đặc điểm thị trường xuất khẩu; H5 - Môi trường kinh doanh trong nước, tất cả đều tác động tích cực đến kết quả xuất khẩu.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp định tính và định lượng theo quy trình 5 bước.

Giai đoạn định tính sử dụng kỹ thuật thảo luận nhóm với 7 thành viên là chuyên viên xuất nhập khẩu và cán bộ phòng quản lý xuất nhập khẩu Tiền Giang. Kết quả: cả 7 chuyên gia đồng thuận về mối quan hệ giữa các biến độc lập và kết quả xuất khẩu; bổ sung 5 biến quan sát mới (kinh nghiệm lâu năm, vị trí gần cảng, tay nghề lao động phổ thông, mức độ cạnh tranh thị trường xuất khẩu, chính sách kinh tế vĩ mô) và hiệu chỉnh diễn đạt 5 biến khác.

Cỡ mẫu xác định theo tiêu chuẩn 5:1 của Bollen (1998) và Hair (1998): với 25 biến quan sát, mẫu tối thiểu là 125 phiếu. Tác giả phát 250 phiếu để dự phòng sai sót. Phương pháp chọn mẫu thuận tiện được lựa chọn vì tiết kiệm thời gian và chi phí thu thập dữ liệu (Nguyễn Đình Thọ, 2013). Trong 250 phiếu, 200 phiếu gửi qua biểu mẫu Google (thu về 187) và 50 phiếu khảo sát trực tiếp (thu về 48). Sau sàng lọc, loại 5 phiếu thiếu thông tin, mẫu chính thức là 235 phiếu, đạt tỷ lệ sử dụng 94%.

Dữ liệu xử lý bằng SPSS 20 qua chuỗi kỹ thuật: thống kê mô tả, kiểm định độ tin cậy Cronbach's Alpha (ngưỡng > 0,6 và tương quan biến tổng > 0,3), phân tích nhân tố khám phá EFA (KMO > 0,5, Bartlett sig < 0,05, factor loading > 0,5, phương sai trích > 50%), phân tích tương quan, hồi quy bội (kiểm định F sig < 0,05, VIF < 10) và ANOVA. Lý do chọn hồi quy bội là mô hình cần lượng hóa đồng thời mức độ đóng góp riêng của 5 nhân tố lên một biến phụ thuộc liên tục.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ cấu mẫu phản ánh đúng đặc thù doanh nghiệp xuất khẩu Tiền Giang. Nhóm doanh nghiệp có 5-10 năm kinh nghiệm chiếm tỷ trọng lớn nhất với 102 đơn vị (43,4%), tiếp đến là nhóm trên 10 năm với 64 đơn vị (27,2%). Doanh nghiệp mới dưới 1 năm chỉ chiếm 12,3% (29 đơn vị) và nhóm 1-5 năm chiếm khoảng 17% (40 đơn vị). Như vậy hơn 70% mẫu là doanh nghiệp có thâm niên trên 5 năm - yếu tố củng cố độ tin cậy của các đánh giá về thị trường quốc tế.

Thứ hai, thị trường xuất khẩu phân tán khá đều. Hoa Kỳ dẫn đầu với 50 doanh nghiệp (21,3%), EU 46 doanh nghiệp (19,6%), ASEAN 45 doanh nghiệp (19,1%), Trung Quốc 40 doanh nghiệp (khoảng 17%), Hàn Quốc 36 doanh nghiệp và Nhật Bản 18 doanh nghiệp. Sự phân tán này có thể trình bày trực quan bằng biểu đồ tròn, cho thấy không thị trường nào chiếm quá 22% - một cấu trúc giảm rủi ro phụ thuộc nhưng cũng phản ánh quy mô đơn hàng còn nhỏ lẻ.

Thứ ba, bốn nhóm hàng chủ lực chia đều tỷ trọng. Dệt may, nông sản, giày dép và thủy sản mỗi nhóm đều có 44 doanh nghiệp (18,7% mỗi nhóm), tổng cộng gần 75% mẫu. Các nhóm còn lại chiếm tỷ trọng khiêm tốn: sản phẩm điện tử và linh kiện 24 doanh nghiệp (10,2%), máy móc thiết bị 18 doanh nghiệp (7,7%), gỗ và sản phẩm gỗ 17 doanh nghiệp (7,2%). Dữ liệu này phù hợp để trình bày dạng biểu đồ cột ngang xếp hạng.

Thứ tư, thang đo đạt chuẩn tin cậy cao. Nhân tố Đặc điểm doanh nghiệp có Cronbach's Alpha = 0,847 - mức rất tốt; nhân tố Năng lực quản lý đạt 0,786 - mức tốt. Toàn bộ hệ số tương quan biến tổng đều vượt ngưỡng 0,3. Riêng thang đo Đặc điểm thị trường xuất khẩu phải kiểm định hai lần, cho thấy có biến quan sát bị loại ở lần đầu để cải thiện độ nhất quán nội tại. Đây là bằng chứng cho thấy việc hiệu chỉnh thang đo qua thảo luận nhóm đã phát huy tác dụng.

Thảo luận kết quả

Kết quả hồi quy khẳng định cả năm nhân tố đều có tác động thuận chiều đến kết quả xuất khẩu, trong đó môi trường kinh doanh trong nước nổi lên là nhân tố được đặt ở vị trí ưu tiên hàng đầu trong phần hàm ý quản trị. Điều này khác biệt đáng chú ý so với Yudi F. và cộng sự (2017) khảo sát 104 doanh nghiệp tại Batam, Indonesia - nơi các nhân tố nội bộ như chiến lược tiếp thị và năng lực quản lý giữ vai trò chi phối.

Nguyên nhân của sự khác biệt có thể lý giải từ đặc thù thể chế. Krammer và cộng sự (2016), qua dữ liệu 5.600 doanh nghiệp tại Brazil, Nga, Trung Quốc và Ấn Độ, chỉ ra rằng ở các nền kinh tế mới nổi, môi trường thể chế tác động đến kết quả xuất khẩu thông qua ổn định chính trị và văn hóa kinh doanh. Trường hợp Tiền Giang minh họa rõ: việc Sở Công Thương tỉnh chuyển 100% văn bản qua mạng, rút thời gian cấp C/O xuống khoảng 4 tiếng và cấp trên 15.000 C/O mỗi năm đến 36 quốc gia mà chưa ghi nhận trường hợp lỗi phải trả lại - đã trực tiếp làm giảm chi phí giao dịch cho doanh nghiệp.

So với Hồ Xuân Hướng và Nguyễn Thị Kim Anh (2015) khảo sát 228 nhà quản lý ngành chế biến gỗ, nghiên cứu này mở rộng đối tượng ra toàn bộ ngành hàng xuất khẩu của tỉnh, do đó kết luận có tính khái quát cao hơn cho hoạch định chính sách cấp địa phương. Điểm tương đồng là cả hai đều xác nhận vai trò của chính sách kinh tế vĩ mô trong nước.

Ý nghĩa quản trị rút ra: doanh nghiệp Tiền Giang không thể chỉ tối ưu nội lực mà cần chủ động tận dụng các đòn bẩy thể chế - ưu đãi lãi suất, hỗ trợ hiệp hội ngành hàng, cải cách thủ tục hải quan - vốn là biến số có sức giải thích lớn trong mô hình.

Đề xuất và khuyến nghị

Nâng cấp năng lực đội ngũ quản lý xuất khẩu. Doanh nghiệp cần tổ chức đào tạo nghiệp vụ ngoại thương và kiến thức FTA cho ít nhất 80% nhân sự phòng xuất nhập khẩu trong vòng 12 tháng. Chủ thể thực hiện là ban giám đốc phối hợp Sở Công Thương và các trường đại học khu vực. Cơ sở đề xuất: nhóm chuyên viên xuất nhập khẩu chiếm tới 38,3% mẫu khảo sát (90/235 người), đây là lực lượng trực tiếp vận hành hồ sơ nhưng ít được đầu tư đào tạo bài bản.

Đầu tư cải tiến máy móc và công nghệ sản xuất. Mỗi doanh nghiệp nên trích tối thiểu 3-5% doanh thu xuất khẩu hằng năm cho tái đầu tư thiết bị, với lộ trình 24-36 tháng. Mục tiêu là đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật và vệ sinh an toàn động thực vật của EU theo EVFTA. Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh (2020) đã khuyến nghị doanh nghiệp Việt Nam cần cải thiện đồng thời công nghệ, chất lượng sản phẩm và trình độ quản lý.

Xây dựng chiến lược marketing xuất khẩu thích ứng theo từng thị trường. Doanh nghiệp cần lập bộ phận nghiên cứu thị trường chuyên trách, thiết kế chiến lược sản phẩm - giá - phân phối - xúc tiến riêng cho từng nhóm thị trường trọng điểm. Với cơ cấu thị trường hiện tại (Hoa Kỳ 21,3%, EU 19,6%, ASEAN 19,1%), tối thiểu cần ba bộ chiến lược riêng biệt thay vì một chiến lược chung. Timeline triển khai 6-12 tháng.

Đa dạng hóa thị trường để giảm rủi ro biến động. Doanh nghiệp nên đặt mục tiêu không để một thị trường đơn lẻ vượt quá 30% kim ngạch trong 3 năm tới. Thị trường Nhật Bản hiện chỉ được 18 doanh nghiệp lựa chọn làm thị trường chính - đây là dư địa mở rộng đáng cân nhắc trong khuôn khổ CPTPP.

Tận dụng cơ chế hỗ trợ của tỉnh và ngân hàng. UBND tỉnh và Sở Công Thương cần duy trì, mở rộng cơ chế cấp C/O điện tử (hiện trên 15.000 C/O/năm đến 36 quốc gia) và phối hợp hệ thống ngân hàng thiết kế gói tín dụng ưu đãi lãi suất riêng cho doanh nghiệp xuất khẩu, triển khai theo chu kỳ ngân sách hằng năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Học viên cao học và nghiên cứu sinh ngành Kinh tế Quốc tế, Quản trị Kinh doanh. Luận văn cung cấp bộ thang đo 25 biến quan sát đã qua hiệu chỉnh bằng thảo luận nhóm và kiểm định Cronbach's Alpha (đạt 0,786-0,847), có thể kế thừa trực tiếp cho nghiên cứu tại địa bàn khác. Quy trình 5 bước từ xây dựng giả thuyết đến kiểm định ANOVA là mẫu tham chiếu chuẩn cho luận văn định lượng.

Nhà quản lý doanh nghiệp xuất khẩu vừa và nhỏ. Với 235 doanh nghiệp được khảo sát trên 7 nhóm ngành hàng, nhà quản lý có thể đối chiếu vị thế doanh nghiệp mình với mặt bằng chung - từ cơ cấu thị trường đến mức độ đầu tư công nghệ. Use case cụ thể: một doanh nghiệp thủy sản Tiền Giang có thể dùng bảng giá trị trung bình của từng nhóm biến để xác định nhân tố nào đang là điểm yếu tương đối cần ưu tiên khắc phục.

Cán bộ quản lý nhà nước cấp tỉnh và Sở Công Thương. Nghiên cứu cung cấp bằng chứng định lượng về mức độ doanh nghiệp cảm nhận hiệu quả của chính sách hỗ trợ, vai trò hiệp hội ngành hàng, lãi suất ngân hàng và ổn định tỷ giá. Đây là đầu vào cho việc đánh giá tác động của Chỉ thị 25/CT-TTg và thiết kế chính sách xúc tiến thương mại giai đoạn tiếp theo.

Chuyên viên tư vấn xuất nhập khẩu và giảng viên đại học. Phần tổng quan tài liệu hệ thống hóa 4 mô hình lý thuyết kinh điển và 8 nghiên cứu thực nghiệm trong - ngoài nước, tiết kiệm đáng kể thời gian khảo lược khi soạn giáo trình hoặc chuẩn bị báo cáo tư vấn về nhân tố quyết định năng lực xuất khẩu.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận văn xác định bao nhiêu nhân tố ảnh hưởng đến kết quả xuất khẩu?

Nghiên cứu kiểm định 5 nhân tố: Đặc điểm doanh nghiệp, Năng lực quản lý doanh nghiệp, Chiến lược marketing xuất khẩu, Đặc điểm thị trường xuất khẩu và Môi trường kinh doanh trong nước. Cả 5 đều được xây dựng thành giả thuyết H1 đến H5 theo hướng tác động tích cực, kế thừa từ mô hình Chugan (2014) và bổ sung qua thảo luận nhóm với 7 chuyên gia địa phương.

2. Cỡ mẫu 235 phiếu có đủ tin cậy không?

Đủ và vượt yêu cầu. Theo tiêu chuẩn 5:1 của Bollen (1998) và Hair (1998), với 25 biến quan sát mẫu tối thiểu chỉ cần 125 phiếu. Tác giả phát 250 phiếu, thu về 240 và giữ lại 235 phiếu hợp lệ - gấp gần 1,9 lần ngưỡng tối thiểu, đạt tỷ lệ sử dụng 94%. Cỡ mẫu này thỏa mãn cả điều kiện chạy EFA lẫn hồi quy bội.

3. Tại sao chọn mô hình Chugan (2014) mà không phải Zou và Stan (1998)?

Vì đơn vị phân tích. Chugan sử dụng cấp độ doanh nghiệp (firm) thay vì liên doanh xuất khẩu (export venture) như Cavusgil và Zou (1994). Cấp độ doanh nghiệp phù hợp với doanh nghiệp vừa và nhỏ có dòng sản phẩm và thị trường xuất khẩu hạn chế - đúng đặc điểm phần lớn doanh nghiệp Tiền Giang. Ngoài ra Chugan tổng hợp nghiên cứu tới năm 2012, cập nhật hơn.

4. Kết quả xuất khẩu được đo lường bằng những tiêu chí nào?

Thang đo kết quả xuất khẩu gồm 3 biến quan sát theo hướng phi tài chính: mức độ đạt được mục tiêu xuất khẩu, sự hài lòng với kết quả hiện tại, và vai trò của xuất khẩu trong kết quả hoạt động chung. Cách tiếp cận này dựa trên lập luận của Diamantopoulos (1998) rằng kết quả xuất khẩu là đa chiều, không thể đo bằng một chỉ số đơn lẻ.

5. Doanh nghiệp ngoài Tiền Giang có áp dụng được kết quả này không?

Áp dụng có điều kiện. Bộ thang đo và khung phân tích hoàn toàn có thể kế thừa. Tuy nhiên tác giả nhấn mạnh rằng nhân tố có ý nghĩa ở bối cảnh này có thể không có ý nghĩa ở bối cảnh khác - điều đã thấy qua khác biệt giữa kết quả tại Batam (Indonesia) và Tiền Giang. Doanh nghiệp tỉnh khác nên chạy lại kiểm định trên dữ liệu địa phương mình.

Kết luận

  • Nghiên cứu xác định và kiểm định thành công 5 nhân tố ảnh hưởng đến kết quả xuất khẩu của doanh nghiệp Tiền Giang trên mẫu 235 doanh nghiệp, thuộc 7 nhóm ngành hàng và 6 thị trường xuất khẩu chính.

  • Bộ thang đo đạt độ tin cậy cao với Cronbach's Alpha từ 0,786 đến 0,847, được hiệu chỉnh qua thảo luận nhóm chuyên gia với 5 biến quan sát bổ sung mang đặc thù địa phương như vị trí gần cảng và tay nghề lao động phổ thông.

  • Đóng góp học thuật chính là lấp khoảng trống nghiên cứu: đây là công trình đầu tiên bao quát toàn bộ doanh nghiệp xuất khẩu Tiền Giang thay vì chỉ một ngành hàng đơn lẻ như các nghiên cứu trước.

  • Đóng góp thực tiễn là hệ thống hàm ý quản trị xếp theo thứ tự ưu tiên, giúp doanh nghiệp phân bổ nguồn lực hiệu quả trong bối cảnh tỉnh hướng tới kim ngạch 3,4 tỷ USD năm 2020.

  • Hướng nghiên cứu tiếp theo trong 2-3 năm tới nên mở rộng sang phương pháp SEM, bổ sung dữ liệu tài chính khách quan và đánh giá tác động của EVFTA sau khi hiệp định có hiệu lực đầy đủ.

Doanh nghiệp và cơ quan quản lý quan tâm đến chiến lược xuất khẩu địa phương nên tham khảo toàn văn luận văn để khai thác chi tiết bộ thang đo và kết quả hồi quy phục vụ công tác hoạch định.