Chương 1 đã trình bày tổng quan về một số công trình nghiên cứu của các tác giả khác nhau trong và ngoài nước đối với các vấn đề có liên quan đến đề tài mà tác giả thực hiện. Trên cơ sở tổng kết các công trình nghiên cứu trên, tác giả đã xác định được khe hổng nghiên cứu, từ đó làm cơ sở để xác định vấn đề cần nghiên cứu và định hướng nghiên cứu sẽ được trình bày ở nội dung của các chương tiếp theo trong luận văn. Với việc phân tích và nhận xét tổng quan các nghiên cứu có thể kết luận rằng việc tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến HTKSNB trong các DNNVV tại TP.HCM vẫn còn là một vấn đề cần thiết và phù hợp với bối cảnh hiện nay. Đề tài nghiên cứu này mang lại ý nghĩa thực tiễn, góp phần hoàn thiện HTKSNB và nâng cao hiệu quả hoạt động cho DNNVV.
7 CHƯƠNG 2 – CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Tổng quan về doanh nghiệp nhỏ và vừa 2.1 Định nghĩa Theo luật Doanh nghiệp năm 2005: Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản riêng, có trụ sở ổn định được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Hiện nay có rất nhiều định nghĩa được đưa ra về DNNVV dựa trên các tiêu chí khác nhau, do vậy chưa thể có một định nghĩa thống nhất được chấp nhận về DNNVV (Edmore Mahembe, 2011). Định nghĩa về DNNVV thường dựa vào quy mô doanh nghiệp với các chỉ tiêu như: số lao động, vốn, doanh thu… Tùy vào từng khu vực và quốc gia mà có sự khác biệt ở các chỉ tiêu trên. Ở Việt Nam, trước đây có nhiều khái niệm khác nhau về DNNVV.
Tuy nhiên, từ khi có Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001 về trợ giúp phát triển DNNVV thì định nghĩa DNNVV đã được hiểu: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, có đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có số vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc có số lao động trung bình hàng năm không quá 300 lao động”.2 Tiêu chí phân loại Ở mỗi khu vực, quốc gia hay vùng lãnh thổ, người ta có những tiêu chí riêng để phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa (Phụ lục 1). Sự phân loại này không hoàn toàn chính xác tuyệt đối vì còn tùy thuộc vào tình hình cụ thể trong từng giai đoạn phát triển hay đặc trưng riêng của mỗi lĩnh vực, ngành nghề. Những tiêu chí này có thể khái quát thành hai nhóm: - Tiêu chí định tính: các chỉ tiêu thuộc nhóm tiêu chí này thường thể hiện chung về tình hình đơn vị (tính chuyên môn hóa, cơ cấu quản lý,…) nên đa phần chúng dùng để mang tính chất tham khảo, kiểm chứng chứ rất ít làm căn cứ chính xác định. - Tiêu chí định lượng: nhóm tiêu chí này được xem là cơ sở chính cho việc phân loại nên được sử dụng khá rộng rãi.
Theo đó, ta có thể dựa vào doanh thu (doanh thu/năm), lợi nhuận, tổng số lao động hay nguồn vốn doanh nghiệp… 8 Theo Nghị định 56/2009/NĐ-CP về trợ giúp phát triển DNNVV thì tiêu chí xác định như sau: Bảng 2.1: Tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa Doanh nghiệp Doanh nghiệp Doanh nghiệp Quy mô/ siêu nhỏ nhỏ vừa Khu vực Số Tổng Số Tổng Số lao động nguồn vốn lao động nguồn vốn lao động I.Nông, lâm 10 người 20 tỷ đồng Từ trên 10 Từ trên 20 Từ trên 200 nghiệp và trở xuống trở xuống người đến tỷ đồng đến người đến thủy sản 200 người 100 tỷ đồng 300 người II.Công 10 người 20 tỷ đồng Từ trên 10 Từ trên 20 Từ trên 200 nghiệp và trở xuống trở xuống người đến tỷ đồng đến người đến xây dựng 200 người 100 tỷ đồng 300 người III.Thương 10 người 10 tỷ đồng Từ trên 10 Từ trên 10 Từ trên 50 mại & dịch trở xuống trở xuống người đến tỷ đồng đến người đến vụ 50 người 50 tỷ đồng 100 người (Nguồn: Nghị định 56/2009/NĐ-CP) 2.3 Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa Trong những thập niên trở lại đây, sự đóng góp của DNNVV vào sự phát triển kinh tế, tạo công ăn việc làm và thúc đẩy sự tiến bộ xã hội được ghi nhận trên toàn thế giới, DNNVV còn được xem là nhân tố chính trong công thức thành công để đạt được sự phát triển về kinh tế (Vosloo, 1994, theo Edmore Mahambe, 2011). DNNVV rất được coi trọng phát triển tại nhiều quốc gia bởi khu vực này là nguồn tạo việc làm, là động ̣lực phát triển kinh tế và đổi mới. Đồng thời, vì sự hiện diện ở nhiều vùng địa lý hơn so với các doanh nghiệp lớn nên chúng cũng góp phần vào việc ̣phân bổ thu nhập tốt hơn. Đặc biệt, đ̣ ối với các nền kinh tế đang phát triển, khu vực DNNVV còn là thành phần quan trọng của sự phát triển kinh tế và xóa đói, giảm nghèo ở mức đô ̣rộng ̣ khắp, là yếu tố chủ chốt và bền vững tạo ra việc làm và thu nhập cho lao động ngoài khu vực nhà nước.
̣Khu vực này nhạy bén, năng động ̣và sẵn sàng đổi mới nên có thể 9 coi đây là động ̣ lực thúc đẩy cạnh tranh và môi trường kinh doanh. Các doanh nghiệp này có thể chuyển đổi cơ cấu của một nền kinh tế thông qua đổi mới, cung cấp các đầu vào trung gian và dịch vụ, cho phép chuyên môn hóa mạnh hơn trong sản xuất. Không dừng lại ở đó, các DNNVV còn có thể tận dụng thị trường ngách mà doanh nghiệp lớn bỏ qua, họ cũng có thể bắt tay với các doanh nghiệp nhỏ khác để tái chuyên môn hóa, triển khai hoạt động hiểu quả hơn. Trên Tạp chí Tài chính số 6 – 2014, Phạm Việt Dũng đã từng đề cập: “Trong cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam, DNNVV là loại hình doanh nghiệp chiếm đa số và chủ yếu trong nền kinh tế.
Theo đó, loại hình doanh nghiệp này đóng vai trò quan trọng, nhất là tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, giúp huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển, xóa đói giảm nghèo… Cụ thể, về lao động, hàng năm tạo thêm trên nửa triệu lao động mới; sử dụng tới 51% lao động xã hội và đóng góp hơn 40% GDP… Số tiền thuế và phí mà các DNNVV tư nhân đã nộp cho Nhà nước tăng 18,4 lần sau 10 năm. Sự đóng góp đã hỗ trợ lớn cho việc chi tiêu vào các công tác xã hội và các chương trình phát triển khác. Do vậy, đã tạo ra 40% cơ hội cho dân cư tham gia đầu tư có hiệu quả nhất trong việc huy động các khoản tiền đang phân tán nằm trong dân cư để hình thành các khoản vốn đầu tư cho sản xuất kinh doanh”.2 Tổng quan về kiểm soát nội bộ 2.1 Định nghĩa Thuật ngữ KSNB xuất hiện đầu tiên là trong nghề nghiệp Kiểm toán. Năm 1905, trong tác phẩm “Lý thuyết và thực hành kiểm toán”, Robert Montgomery đã đưa ra yêu cầu kiểm toán viên cần chú ý đến KSNB.
Điều này được coi là cơ sở về các thủ tục mà kiểm toán viên cần thực hiện. Năm 1929, thuật ngữ KSNB được đề cập chính thức trong một công bố của Fed: “…là một công cụ để bảo vệ tiền và các tài sản khác, đồng thời thúc đẩy nâng cao hiệu quả hoạt động, hỗ trợ các kiểm toán viên trong việc lấy mẫu thử nghiệm”. Năm 1936, KSNB được AICPA định nghĩa như sau: “… là các biện pháp và cách thức được chấp nhận và được thực hiện trong một tổ chức để bảo vệ tiền và các tài sản khác, cũng như kiểm tra sự chính xác trong ghi chép sổ sách”. 10 Năm 1949, AICPA đã xuất bản nghiên cứu đầu tiên về KSNB.
Theo đó, KSNB được định nghĩa: “… là cơ cấu tổ chức và các biện pháp, cách thức liên quan được chấp nhận và thực hiện trong một tổ chức để bảo vệ tài sản, kiểm tra sự chính xác và đáng tin cậy của số liệu kế toán, thúc đẩy hoạt động có hiệu quả, khuyến khích sự tuân thủ và các chính sách của người quản lý”. Sau đó, AICPA đã soạn thảo và ban hành nhiều chuẩn mực kiểm toán nội bộ đề cập đến những khái niệm và khía cạnh khác nhau của KSNB. Nhằm tăng cường kiểm soát và giảm thiểu sai phạm, Ủy ban chứng khoán Hoa Kỳ (SEC – Statement of Management on Internal Accounting Control) đưa ra quy định bên cạnh BCTC, các giám đốc phải đưa ra báo cáo về HTKSNB đối với công tác kế toán ở doanh nghiệp (1979). Năm 1985, Ủy ban COSO đã được thành lập với mục đích “thiết lập các khuôn mẫu và đưa ra các hướng dẫn về quản trị rủi ro, kiểm soát nội bộ và giảm thiểu gian lận”.
Báo cáo của COSO ban hành đầu tiên năm 1992 với tiêu đề “Kiểm soát nội bộ - Khuôn khổ hợp nhất” (Internal Control – Intergrated framework), được xem là “tài liệu đầu tiên trên thế giới đã trình bày khuôn mẫu lý thuyết về KSNB một cách và đầy đủ”. Khái niệm KSNB được COSO nêu ra như sau: “Kiểm soát nội bộ là một quá trình, chịu ảnh hưởng bởi Hội đồng Quản trị, người quản lý và các nhân viên của đơn vị, được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt được các mục tiêu về hoạt động, báo cáo tài chính và tuân thủ”. Trong đó: - “KSNB là một quá trình”: KSNB bao gồm một chuỗi các hoạt động kiểm soát, hiện diện ở hầu hết tất cả mọi cấp độ, bộ phận trong doanh nghiệp. Quá trình kiểm soát được xem như phương tiện để thông qua đó doanh nghiệp đạt được mục tiêu đề ra.
- KSNB được thiết kế và vận hành bởi con người: Vì KSNB không phải chỉ là những biểu mẫu, chính sách, thủ tục,. mà còn có con người trong đơn vị như Hội đồng Quản trị, Ban giám đốc và các nhân viên thực hiện. Chính họ sẽ là người đặt ra mục tiêu kiểm soát, thiết lập nên cơ chế kiểm soát ở mọi nơi và tiến hành vận hành chúng. Tất cả các thành viên của tổ chức đều tham gia vào quy trình này.
11 - “KSNB cung cấp một sự đảm bảo hợp lý”: KSNB cung cấp một sự đảm bảo hợp lý, chứ không phải đảm bảo một cách tuyệt đối là các mục tiêu đều sẽ hoàn thành. Nguyên nhân: trong quá trình vận hành HTKSNB con người có thể mắc những sai lầm do vậy không đạt được mục tiêu đề ra. KSNB có thể ngăn chặn và phát hiện các sai phạm nhưng không thể đảm bảo chắc chắn các sai phạm trên không tái phạm ở lần sau. Bên cạnh đó, yếu tố chi phí cũng đáng được cân nhắc.