CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Nghiên cứu những nhân tố tác động đến tính minh bạch thông tin trên BCTC khu vực Công.1 Các nghiên cứu nước ngoài Cuốn sách “Phục vụ và duy trì: Cải thiện hành chính công trong một thế giới cạnh tranh” của S.Chiavo-Campo và cộng sự (2003), tác giả cho rằng tính minh bạch là một trong bốn nguyên tắc chủ đạo để hoạt động quản lý nhà nước tốt bao gồm: trách nhiệm giải trình, tính minh bạch, tính dự đoán và sự tham gia. Sự minh bạch trong khu vực công được xem xét trên 2 khía cạnh: (1)Truyền thông công cộng có sự nổ lực từ chính phủ sử dụng công nghệ mới để phổ biến các thông tin phù hợp liên quan đến hoạt động của mình. Bên cạnh đó, minh bạch phải được cân bằng với yêu cầu giữ bí mật, cần xác định tiêu chí rõ ràng cụ thể để quyết định loại thông tin nào cần giữ bí mật và cũng phải được công bố rộng rãi bằng những văn bản pháp luật, thường là những thông tin liên quan đến an ninh quốc phòng hoặc các chính sách đối ngoại.(2) Quyền công dân trong việc tiếp cận thông tin của chính phủ: thường được thể hiện quan các văn bản luật về quyền tự do thông tin, phức tạp thủ tục hành chính là trở ngại chính của quá trình tiếp cận thông tin. Trên cơ sở kế thừa nghiên cứu White (1980), Archambault và cộng sự ( 2003) đã thực hiện một nghiên cứu về quá trình công bố công khai BCTC của các công ty thuộc khu vực tư.
Kết quả điều tra thực nghiệm các công ty đến từ 33 quốc gia thuộc khu vực Châu Mĩ, sử dụng phương pháp kiểm định F, tác giả cho rằng minh bạch BCTC và công bố thông tin trên BCTC là một quá trình phức tạp, chịu sự ảnh hưởng bởi một tập hợp các nhân tố. Mô hình các nhân tố tác động đến tiến trình công khai thông tin trên BCTC làm cơ sở đánh giá tinh minh bạch như sau: Trans = f( Culture + Political + Economic+ Financial + Operating). Trong đó: - Nhân tố văn hóa (culture): xem xét 4 chiều văn hóa của Hofstede (1991) bao gồm: khoảng cách quyền lực; chủ nghĩa cá nhân; né tránh rủi ro; chủ nghĩa nam tính. Bên cạnh đó, tác giả xem xét đến trình độ giáo dục và tôn giáo.
- Nhân tố hệ thống chính trị (political): quyền tự do tiếp cận BCTC công dân; hệ thống pháp lý; vai trò phương tiện truyền thông. - Nhân tố kinh tế (economic): mức độ phát triển kinh tế, lạm phát; và thị trường vốn - Nhân tố tình hình tài chính (financial): Quyền sở hữu; tình trạng niêm yết; cổ tức; chất lượng kiểm toán; và đòn bẩy tài chính. 4 - Nhân tố đặc điểm hoạt động tổ chức (Operating): quy mô tổ chức; lĩnh vực hoạt động; kết quả tài chính. Fairbanks và cộng sự (2007) nghiên cứu vai trò của cơ quan truyền thông đến tính minh bạch ở Mỹ.
Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính và đã xác định ba nhóm nhân tố ảnh hưởng đến tính minh bạch là (i) Nhóm nhân tố cá nhân : bao gồm động cơ của người công bố thông tin; trình độ của người nhận được thông tin.(ii) Nhóm nhân tố tổ chức: quyền lực của người đứng đầu; sứ mệnh của tổ chức; và hệ thống chính trị. (iii) Nhóm nhân tố nguồn lực: Thời gian, nhân sự, hệ thống CNTT, tài chính. Để thông tin có chất lượng, nhà nước tốn nhiều nguồn lực hơn, có nhiều thời gian trong việc xử lý và đây cũng là hệ quả tất yếu làm tăng chi phí. Yamada (2007) nghiên cứu về mục tiêu và vấn đề liên quan báo cáo tài chính KVC ở Nhật bằng cách xem xét những nét tương đồng và khác biệt ở Mỹ.
Cả hai quốc gia đều cho rằng BCTC phục vụ cho nhu cầu giải trình và cung cấp thông tin minh bạch, hữu ích cho quá trình ra quyết định. Tuy nhiên, ở Mỹ nhu cầu sử dụng thông tin BCTC khu vực công rất cao bởi họ cho rằng công dân là người cung cấp nguồn lực bằng khoản thuế đã nộp, vì vậy nhà nước phải có nghĩa vụ giải thích cho người dân về cách họ sử dụng các nguồn này. Trong khi đó, với người Nhật, mục tiêu giải trình BCTC còn mờ nhạt bởi họ xem việc nộp thuế là nghĩa vụ thì dù có sử dụng dịch vụ công hay không họ vẫn phải nộp thuế và BCTT cung cấp thông tin ra quyết định thuộc về trách nhiệm của các cán bộ, lãnh đạo nhiều hơn là công chúng. Tác giả cũng đề cập khía cạnh đạo đức, nguy cơ gian lận khi cán bộ tận dụng cơ hội khai thác quyền lực phục vụ lợi ích cá nhân, nhóm.
Nghiên cứu cho rằng mục tiêu BCTC sẽ quyết định nội dung BCTC; nhu cầu sử dụng thông tin trên BCTC không giống nhau ở hai quốc gia do mức độ nhận thức về người nộp thuế và cần đưa mục tiêu cung cấp thông tin đánh giá trách nhiệm giải trình làm mục tiêu cơ bản của BCTC KVC ở Nhật trong tương lai. Trong nghiên cứu với tên gọi “Tính hiệu quả báo cáo kiểm toán khu vực công ở Indonexia” được thực hiện bởi Dwiputrianti (2011). Tác giả cho rằng, hoạt động kiểm toán cung cấp sự đảm bảo về tính hiệu quả sử dụng nguồn lực, ngăn ngừa gian lận, lạm dụng và tham nhũng các nguồn quỹ và nguồn lực công. Thông qua hoạt động kiểm toán, ý kiến kiểm toán là tăng độ tin cậy và tính minh bạch của các thông tin trên báo cáo tài chính làm căn cứ để Nhà nước đưa ra các biện pháp quản lý phù hợp và giúp cho các đối tượng sử dụng thông tin đưa ra các quyết định đúng đắn.
Phỏng vấn các cán bộ làm công tác kiểm toán, các thành viên nghị viện ở cấp TW và địa phương; thành viên hội đồng 5 quản trị… Nghiên cứu phát hiện các yếu tố ảnh hưởng đến tính hiệu quả của báo cáo kiểm toán của Cơ quan Kiểm toán nhà nước Indonesia (BPK): (1) Tính độc lập và tự chủ của tổ chức kiểm toán. (2) Tính chuyên nghiệp và toàn vẹn tổ chức kiểm toán: ngân sách và nguồn lực hạn chế. Hơn nữa, phúc lợi và mức lương thấp làm giảm đáng kể tính chuyên nghiệp và toàn vẹn của kiểm toán viên.(3) Chưa có quy định pháp luật về bảo vệ hoặc đảm bảo an ninh kiểm toán viên khi phát hiện và tố cáo gian lận. Bauhr và cộng sự (2012) thực hiện nghiên cứu ở Thụy Sĩ chỉ ra phương pháp mới đo lường tính minh bạch và mối quan hệ với chất lượng chính phủ.
Cuộc khảo sát thực hiện bởi Viện chất lượng của Chính phủ, tiến hành bằng phương pháp định tính và định lượng sử dụng thang đo Likert khảo sát 52 quốc gia thu về 432 kết quả. Bài viết phát hiện tính minh bạch có thể được đo lường thông qua 3 nhân tố : (i) Mức độ công khai của chính phủ: mức độ chính phủ sẳn lòng chia sẻ và sự sẵn có của thông tin (ii) Chính sách bảo vệ người thổi còi: hành vi bảo vệ người dám đứng ra chỉ trích những hành động gian lận, lạm dụng quyền lực,.(iii) Tính công khai: sự sẵn sàng và năng lực nhân viên truyền thông, cạnh tranh và tự do báo chí tìm kím và phơi bày vấn nạn tham nhũng. Nhiều tổ chức quốc tế, như WTO, OECD, WB,.rất coi trọng tính minh bạch ở KVC vì lợi ích của nó trong việc giảm tham nhũng, tạo thuận lợi cho thương mại và thúc đẩy tăng trưởng, tăng cường tính dân chủ và trách nhiệm giải trình, và tổng thể dẫn đến chất lượng nhà nước hoạt động hiệu quả hơn. Ofoegbu (2014) nghiên cứu vận dụng quản lý công mới (NPM) và IPSASs lộ trình chuyển đổi từ tiền mặt sang dồn tích vào công cuộc cải cách kế toán công ở Nigeria.
Thực nghiệm cho thấy BCTC KVC Nigeria không đảm bảo tính minh bạch và trách nhiệm giải trình bởi mức độ lan tỏa các hành vi tham nhũng, văn hóa trách nhiệm của người đứng đầu còn hạn chế, ngân sách được lập trên cơ sở tiền mặt,… Phân tích dữ liệu được thu thập từ 100 người bao gồm kế toán viên, kiểm toán viên; được xử lý qua phần mềm SPSS bằng kiểm định Chi bình phương. Kết quả nghiên cứu cho thấy vận dụng IPSAS trên cơ sở vận dụng kế toán dồn tích sẽ thúc đẩy tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và nâng cao chất lượng thông tin BCTC trong khu vực công của Nigeria. Năm 2014, Dion Curry nghiên cứu về “Xu hướng cải cách kế toán công trong tương lai” dựa vào kết quả của một nhóm nhà nghiên cứu hành chính công đến từ 10 quốc gia Châu Âu, tác giả chỉ ra bối cảnh hành chính công với sự tác động của toàn cầu hóa, khủng hoảng kinh tế và sự lỗi thời mô hình quản lý công truyền thống, tạo sức ép cho nhà nước buộc phải chuyển mình theo hướng áp dụng mô hình quản lý công (NPM). Kết quả 6 nghiên cứu cho thấy các nước áp dụng mô hình quản lý công mới đều đã đạt được những thành công nhất định: (i) bộ máy nhà nước được thu gọn; (ii) hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước được nâng lên bằng việc đẩy mạnh phân cấp, tăng quyền cho chính địa phương; (iii) xây dựng Chính phủ điện tử, quản trị điện tử nhằm tăng cường sự tham gia của nhân dân trong quá trình hoạch định chính sách, tiếp cận thông tin một cách dễ dàng chính xác và kịp thời;…Bài nghiên cứu đã phát hiện trách nhiệm giải trình, tính minh bạch và niềm tin công chúng tăng lên khi có sự gắn kết giữa quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm.
Tuy nhiên, mô hình quản lý công mới đều có điểm phù hợp và không phù hợp cần gắn các đặc trưng của mô hình này với điều kiện thực tiễn hoàn cảnh cụ thể về chế độ chính trị, trình độ phát triển kinh tế - xã hội, truyền thống, văn hoá, lịch sử của mỗi quốc gia. Trong một nghiên cứu của Roderick và cộng sự (2015) cho thấy những đặc tính của người đứng đầu và đặc điểm tổ chức tác động đáng kể đến mức độ công khai tình hình tài chính của các tổ chức phi chính phủ. Sử dụng phương pháp bình phương nhỏ nhất, thang đo Likert 5 cấp độ với số lượng mẫu 775 tổ chức phi lợi nhuận thuộc các tiểu bang Đông Bắc nước Mỹ, tác giả đề xuất mô hình các nhân tố tác động đến quá trình công khai tình hình tài chính của các tổ chức phi chính phủ như sau: DiscTrans = F (Education + Attitude + Perceived + TotalAssets + Plan + Budget + ITJobSkills + BODSupport + UrbanLocation).