Chương 1. Giới thiệu đề tài nghiên cứu Chương 2. Cơ sở lý thuyết về rủi ro thanh khoản của các ngân hàng thương mại. Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu Chương 4.
Kết quả nghiên cứu và bình luận Chương 5. Kết luận và kiến nghị KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 Chương này tập trung trình bày khái quát các vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu bao gồm năm nội dung chính, thứ nhất là tính cấp thiết của đề tài, bài viết tiếp cận theo hướng từ vai trò quan trọng của việc đánh giá nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản trong ngân hàng. Tiếp theo cùng chương, bài viết trình bày bốn nội dung về mục tiêu, đối tượng phạm vi và phương pháp nghiên cứu cũng như kết cấu của đề tài. Với mục đích cung cấp cái nhìn tổng quan về đề tài, chương này còn có tác dụng định hướng phù hợp cho người viết và giúp người đọc dễ dàng nắm bắt trọng tâm của toàn bài Luận văn.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CHƢƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ RỦI RO THANH KHOẢN CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THANH KHOẢN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 2. Khái niệm thanh khoản Trong tài chính, thuật ngữ “thanh khoản” được hiểu trong nhiều góc độ khác nhau: Dưới góc độ tài sản, thanh khoản được hiểu là khả năng chuyển hóa thành tiền của tài sản và ngược lại. Một tài sản được xem là thanh khoản khi đáp ưng được các tiêu chí sau: có sẵn số lượng để mua hoặc bán, có thị trường giao dịch, thời gian giao dịch và giá cả hợp lý.
Theo Peter Rose, một tài sản có tính thanh khoản cao nếu thỏa mãn đồng thời cả hai đặc điểm: có thị trường giao dịch để chuyển hóa tài sản thành tiền và có giá cả ổn định mà không bị ảnh hưởng bởi số lượng và thời gian giao dịch. Như vậy, tính thanh khoản của tài sản được đo lường thông qua thời gian và chi phí để chuyển hóa tài sản thành tiền. Tài sản có tính thanh khoản cao là tài sản chuyển đổi thành tiền nhanh và chi phí thấp. Dưới góc độ doanh nghiệp nói chung, thanh khoản là lượng tiền và tương đương tiền mà doanh nghiệp sở hữu.
Dưới góc độ ngân hàng là ngành kinh doanh đặc biệt, thanh khoản được hiểu là khả năng ngân hàng đáp ứng kịp thời và đầy đủ các nghĩa vụ tài chính phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh như chi trả tiền gửi, cho vay, thanh toán, và các giao dịch tài chính khác. Theo bộ quy tắc về “Nguyên tắc quản lý và giám sát rủi ro thanh khoản” của Basel ban hành tháng 9/2008 định nghĩa “Thanh khoản là khả năng của ngân hàng vừa có thể tăng thêm tài sản vừa đáp ứng các nghĩa vụ nợ khi đến hạn mà không bị những thiệt hại quá mức cho phép”. Từ đó có thể đưa ra định nghĩa cơ bản về thanh khoản như sau: Thanh khoản đại diện cho khả năng ngân hàng có thể thực hiện tất cả nghĩa vụ thanh toán khi đến hạn và bằng đơn vị tiền tệ được quy định. Do thực hiện bằng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 tiền nên thanh khoản chỉ liên quan đến các dòng lưu chuyển tiền tệ.
Việc không thể thực hiện nghĩa vụ thanh toán sẽ dẫn đến tình trạng thiếu khả năng thanh khoản. Có thể thấy rằng thanh khoản không phải là một số tiền hay tỷ lệ cụ thể nào; mà thay vào đó thể hiện phạm vi khả năng thực hiện các nghĩa vụ thanh toán của một ngân hàng. Ngược lại, thiếu khả năng thanh khoản hay mất khả năng thanh khoản là ngân hàng đang thiếu khả năng hoặc không có khả năng thực hiện các nghĩa vụ thanh toán. Cung cầu thanh khoản và trạng thái thanh khoản ròng Vấn đề thanh khoản chỉ xuất hiện khi ngân hàng đứng trước nhu cầu rút tiền từ khách hàng.
Khi đó ngân hàng không chỉ lo cân dối nhu cầu rút tiền với lượng tiền hiện có mà còn cân đối với khả năng huy động vốn tiếp theo. Vì thế việc đánh giá tính thanh khoản của ngân hàng phải nhìn ở trạng thái động, tức là cần phải được xem xét trong tương quan cung cầu vốn khả dụng của ngân hàng trong từng giai đoạn nhất định. Cung thanh khoản Cung thanh khoản là số tiền có sẵn hoặc có thể có trong thời gian ngắn đề ngân hàng sử dụng. Theo Peter Rose (1988), cung thanh khoản đại diện là luồng tiền vào được tạo nên từ các nguồn: - Tiền gửi của khách hàng Đây được xem là nguồn cung thanh khoản quan trọng nhất của ngân hàng.
Để tăng nhu cầu này, tức là tăng cung thanh khoản cho ngân hàng, có thể thực hiện các biện pháp như: điều chỉnh lãi suất huy động vốn hấp dẫn, tạo các chương trình khuyến mãi, tri ân khách hàng thường xuyên, ngân hàng có hình ảnh thương hiệu cũng như kết quả hoạt động kinh doanh tốt. Mặt khác, trong điều kiện các kênh đầu tư khác trở nên kém hấp dẫn hơn thì nguồn tiền gửi huy động từ dân cư có thể được tăng lên. - Khách hàng thanh toán nợ vay LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Đây được xem là nguồn cung thanh khoản quan trọng thứ hai trong cơ cấu. Hoạt động tín dụng là hoạt động chính của ngân hàng, mang lại nguồn thu lớn nhất cho ngân hàng nhưng cũng tiềm ẩn rủi ro cao, ảnh hưởng đến khả năng thanh toán cuối cùng của ngân hàng.
Nếu mọi khoản tín dụng đề được thanh toán đúng hạn thì không những đảm bảo được hiệu quả kinh doanh, tạo tính ổn định mà còn là nguồn cung thanh khoản lớn cho ngân hàng. - Thu từ bán sản phẩm, dịch vụ ngân hàng Các khoản thu nhập của ngân hàng trong quá trình thưc hiện các dịch vụ cho khách hàng như thu phí bảo lãnh, tài trợ thương mại, phí mở L/C, dịch vụ hoa hồng, cho thuê két sắt… - Vay nợ trên thị trường tài chính Ngân hàng có thể tăng nguồn cung thanh khoản bằng cách đi vay trên thị trường tiền tệ, bao gồm các khoản vay mới, gia hạn và tuần hoàn nợ vay… Các giao dịch diễn ra giữa các ngân hàng với các ngân hàng khác hoặc với ngân hàng trung ương. - Thu nhập từ bán tài sản Để đáp ứng nhu cầu thanh khoản, ngân hàng có thể chuyển hóa một phần tài sản thanh khoản thành tiền trong trường hợp cần thiết. - Phát hành cổ phiếu ra thị trường Việc ngân hàng phát hành cổ phiếu ra thị trường cũng là một nguồn cung thanh khoản lớn cho ngân hàng 2.
Cầu thanh khoản Cầu về thanh khoản phản ánh nhu cầu rút tiền khỏi ngân hàng ở những thời điểm khác nhau. Theo Peter Rose (1988), nhu cầu này phụ thuộc vào các nhân tố sau: - Nhu cầu rút tiền gửi của khách hàng Đây là nhu cầu thanh khoản có tính thường xuyên, tức thời, bao gồm các loại tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi thanh toán, tiền gửi có kỳ hạn đến hạn và có thể rút trước hạn. Trong cơ cấu tiền gửi của ngân hàng, tiền gửi thanh toán và tiền gửi không kỳ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 hạn luôn ở trạng thái động, ngân hàng luôn phải đảm bảo một khoản tiền gửi dự trữ để đáp ứng nhu cầu thanh toán từ tài khoản này. Những nhân tố tạo nên nhu cầu thanh khoản này có thể là sự biến động của lạm phát trong nền kinh tế, chênh lệch đáng kể về lãi suất huy động giữa các ngân hàng, mức lợi tức khác biệt của các cơ hội đầu tư (chứng khoán, bất động sản, vàng, ngoại tệ…) so với việc gửi tiền vào ngân hàng.
- Nhu cầu vay tiền từ khách hàng Đây cũng là yếu tố tác động mạnh đến cầu thanh khoản đối với ngân hàng. Nhu cầu này chịu tác động của các nhân tố như nhu cầu đầu tư của doanh nghiệp dẫn đến nhu cầu cần vốn, lãi suất cho vay của ngân hàng có tính cạnh tranh so với các ngân hàng khác, các nguồn vốn khác như tín dụng thương mại, phát hành trái phiếu… trở nên khó tiếp cận hơn. - Thanh toán các khoản nợ đến hạn Là khoản tiền mà ngân hàng phải hoàn trả cho các khoản đi vay từ các tổ chức kinh tế, cá nhân, các TCTD khác hay từ NHTW. - Chi phí hoạt động, chi phí cung ứng dịch vụ và chi phí lãi Đây là những khoản chi phí duy trì hoạt động kinh doanh, chi phí trả lãi huy động, trả lãi phát hành giấy tờ có giá mà ngân hàng đã huy động trước đây đến hạn ngân hàng phải thanh toán cho khách hàng.
- Thanh toán cổ tức cho cổ đông Là khoản tiền mà ngân hàng phải trả cho các cổ đông. - Mua lại cổ phiếu quỹ Việc ngân hàng mua lại các cổ phiếu đã phát hành cũng tác động đến nhu cầu thanh khoản của ngân hàng. Mặc dù các loại nhu cầu thanh khoản trên có vai trò và đặc điểm khác nhau nhưng đều tạo nên cầu về thanh khoản của ngân hàng. Trong một số trường hợp, tùy vào tình hình tài chính hiện tại của tổ chức, ngân hàng có thể lựa chọn đáp LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 ứng cầu thanh khoản nào và kéo giãn, gia hạn những cầu khác khi nhiều cầu thanh khoản phát sinh cùng lúc.
Tuy nhiên, xét về dài hạn, việc gia hạn các khoản cầu thanh khoản sẽ làm cho ngân hàng đánh mất nhiều cơ hội đầu tư sinh lời. Xét về thời gian, nhu cầu thanh khoản của một ngân hàng bao gồm cả trong ngắn hạn và dài hạn. Nhu cầu thanh khoản ngắn hạn mang tính tức thời hoặc gần như thế. Các khoản tiền gửi giao dịch hoặc tiền gửi có kỳ hạn đến hạn, các công cụ huy động thuộc thị trường tiền tệ… nằm trong phạm vi nhu cầu thanh khoản ngắn hạn.
Để đáp ứng nhu cầu thanh khoản thuộc loại này, đòi hỏi ngân hàng phải duy trì ở mức độ khá lớn các loại tài sản có tính thanh khoản cao (tiền mặt tại quỹ, tiền gửi tại NHTW và các định chế tài chính khác, chứng khoán chính phủ…). Nhu cầu thanh khoản dài hạn do các nhân tố mang tính chất thời vụ, chu kỳ và xu hướng tạo ra. Chẳng hạn nhu cầu rút tiền hay vay mượn của cá nhân thường đặc biệt tăng cao vào các dịp lễ trong năm để trang trải chi tiêu, mua sắm. Để đáp ứng nhu cầu thanh khoản này, đòi hỏi ngân hàng cần phải dự phòng trước khả năng cung cấp thanh khoản từ nhiều nguồn khác nhau và ở mức độ cao hơn so với nhu cầu thanh khoản ngắn hạn.