CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ LĨNH vực NGHIÊN cứu Nội dung chính yếu của chương này là trình bày tổng quan các nghiên cứu, các mô hình nghiên cứu liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng đến tính hiệu quả tổ chức công tác kế toán trong DN. Mục tiêu chương này sẽ thực hiện việc hệ thống hóa, phân tích giúp cung cấp những luận giải cần thiết và tạo nền tảng để đề tài vừa có thể kế thừa cơ sở lý thuyết, các pp và kết quả nghiên cứu, từ đó xác định được khe hổng nghiên cứu và đưa ra định hướng cho nghiên cứu này.1 Các nghiên cứu trên thế giói Theo Cerne K., (2009), đã có nhận xét về các yếu tố ảnh hưởng cùng chiều đến hệ thống kế toán tại mỗi quốc gia khác nhau và được định hình thành 10 yếu tố như sau: sự phát triển của thị trường vốn; hệ thống BCTC, hệ thống pháp luật; hệ thống chính trị và mối quan hệ kinh tế; chất lượng và thực trạng giáo dục ngành kế toán; quy mô và hình thức kinh doanh phù hợp của DN; mức độ lạm phát; áp dụng và thực hiện các quy định kế toán; nền văn hóa và tốc độ phát triển kinh tế. Tuy nhiên, thống kê ra được các yếu tố tác động này được tìm kiếm, kế thừa, tập hợp từ các nghiên cứu trước đó thay vì phải đánh giá và phân tích mức ảnh hưởng của chúng bằng cách sử dụng pp nghiên cứu định lượng hoặc tìm kiếm mô hình chứng minh sự phụ thuộc lẫn nhau. Theo tác giả Kamyabi và Devi (2011) nghiên cứu xem xét về vai trò của dịch vụ kế toán tài chính bên ngoài tác động đến như thế nào với DNWN, nghiên cứu xác định được hiệu quả và chất lượng trong công việc của kế toán tại DN và hoạt động.
Việc sử dụng tư vấn kế toán bên ngoài có mối liên hệ tích cực với kiến thức của chủ sở hữu hoặc người quản lý DN hay năng lực kỹ thuật đều mang lại hiệu quả. Các dịch vụ thuê tư vấn thuê dịch vụ kế toán bên ngoài có vai trò rất quan trọng với các DNWN vì nó có thể giúp họ kiểm soát quản lý tốt hơn và hỗ trợ ra quyết định và ngày nay dễ dàng hơn trong việc sử dụng phần mềm kế toán nên nó đã tạo ra điều kiện rất thuận tiện mang lại lợi ích cho việc quản lý của công ty, tác động thuận 6 chiều tới hiệu quả trong DN (Ismail, 2009) và tuyên bố này cũng đồng ý với nghiên cứu của tác giả Kamyabi và Devi (2011). Tác giả Padachi (2012), nghiên cứu với đặc điểm ngành nghề khác đã tìm hiểu về các tác nhân gây ảnh hưởng đến việc các DNWN vận hành hệ thống tổ chức kế toán chính thức tại DN. Mục tiêu mà tác giả hướng đến là phân tích tầm quan trọng gắn liền với việc thực hiện tổ chức hệ thống kế toán chính thức công ty vừa và nhỏ hoạt động sản xuất.
Tác giả đưa ra mô hình nghiên cứu gồm các yếu tố bên ngoài bao gồm tài chính, điều kiện kinh tế, cạnh tranh, cơ cấu pháp lý, công nghệ và nhân tố môi trường kinh doanh. Các yếu tố bên trong là kỹ năng quản lý, quy mô, loại hình DN số năm kinh doanh, năng lực nhân viên, đặc điểm ngành nghề và hệ thống kế toán. Tác giả khảo sát 141 DNWN trong lĩnh vực sản xuất. Dữ liệu được xử lý thống kê qua SPSS, kiểm định T-test, phân tích hồi qui logistic nhị phân, như mong đợi của tác giả, các công ty có ảnh hưởng từ yếu tố bên ngoài nhiều hơn, có ý nghĩa tích cực hơn trong việc áp dụng các quy trình công tác kế toán.
Mặt khác các biến còn lại dù có ảnh hưởng thuận chiều như là quy mô, số năm kinh doanh hay trình độ nguồn lực lao động và của người quản lý tuy nhiên nó lại chiếm tỷ trọng không đáng kể. Theo tác giả Onaolapo và Odetayo (2012), nghiên cứu về ảnh hưởng của hệ thống công nghệ thông tin đến hiệu quả của tổ chức công tác kế toán, tác giả nghiên cứu điển hình về các đơn vị hoạt động kinh doanh trong ngành nghề xây dựng lựa chọn ở Ibadan, Nigeria. Nội dung nghiên cứu chỉ rõ được các biến quan sát để kiểm tra tính hiệu quả của một tổ chức, đặc biệt đến các công ty xây dựng ở đô thị Ibadan. Hiệu quả của một TCCTKT được định nghĩa là tổ chức theo đuổi nhiều mục tiêu và các mục tiêu đó phải đạt được, phải có khả năng tạo ra kết quả mong muốn.
Tiến hành chọn danh sách một số công ty ngành xây dựng lớn ở Ibanda, kỹ thuật bảng câu hỏi được sử dụng để thu thập dữ liệu, xử lý với thống kê từ SPSS. Kết quả cho thấy rằng có hiệu quả tích cực mặc dù mối tương quan của hệ thống công nghệ thông tin với hiệu quả của tổ chức kế toán là yếu. Với tỷ lệ F=7,354 là đáng kể, điều này cho thấy hệ thống CNTT kế toán là yếu tố mạnh mẽ trong việc xác định tính 7 hiệu quả. Tác giả đã khuyến nghị các nhà quản lý công ty xây dựng ở Nigeria Sho nên áp dụng phần mềm kế toán, hệ thống tự động sẽ tạo ra được số liệu và các BCTC tốt hon và hiệu quả cao trong công tác kế toán.
Nghiên cứu của tác giả Kermani và cộng sự (2013), đánh giá ảnh hưởng của CNTT đến hiệu quả của hệ thống kế toán trong ngành khách sạn tại Iran. Từ các nghiên cứu đi trước, tác giả đúc kết ra được bất kỳ một hệ thống nào vận hành cũng cần phải có hiệu quả, hành động thích hợp. Một trong những mục mà hiệu quả cần được quan tâm là hệ thống co cấu kế toán tại DN nói chung và tại hệ thống ngành khách sạn nói riêng. Vói pp tiếp cận và bảng câu hỏi được sử dụng, tác giả sử dụng thang đo Likert vói 37 biến khảo sát là các khách sạn từ 3 sao trở lên, khoảng 150 bảng câu hỏi không đáng tin cậy, trong đó chỉ có 90 bảng được trả lại và sau khi đánh giá cuối cùng thì có 69 mẫu thỏa điều kiện và được chấp thuận để phân tích dữ liệu.
Thông qua phần tích SPSS, thống kê T-test là cơ sở để kiểm định giả thuyết, tác giả thu được kết luận các khách sạn có ứng dụng CNTT tiên tiến vào quá trình xử lý công việc hàng này và điều này đã ảnh hưởng tích cực tới việc TCCTKT một cách hiệu quả. Nhiều kết quả nghiên cứu cũng đồng ý rằng việc tiếp thu các kỹ năng kế toán của các nhà quản lý DN sẽ nâng cao sự nhạy bén trong kinh doanh, đạt hiệu quả cao trong tổ chức, củng cố và nâng cao hoạt động kinh doanh hàng ngày (Chibunna, 2012; Osuala, 2004; Onoh, 2011). Cùng mục tiêu nghiên cứu về TCCTKT trong DN, nhưng khác với các nghiên cứu nêu trên không chỉ đề cập đến TCCTKT nội bộ và bị ảnh hưởng từ các nhân tố bên ngoài, mà nghiên cứu nhằm mục đích xác định các kỹ năng của kế toán là cần thiết và vô cùng quan trọng cho chủ DN vừa và nhỏ. Nghiên cứu nói rằng việc xác định hiệu quả của tổ chức sẽ thành ảo ảnh nếu một chủ DN không thể đọc hiểu và cung cấp TTKT cơ bản cho các bên quan tâm và đặc biệt là nhà đầu tư.
Sử dụng phương pháp khảo sát và phân tích dữ liệu, dựa trên những phát hiện và thảo luận đạt được, tác giả kết luận rằng việc chủ DN vừa và nhỏ nắm kỹ năng cơ bản của kế toán mang 8 lại nhiều đóng góp quan trọng thực tiễn trong quản lý và đạt được hiệu quả. Hơn nữa những kỹ năng kế toán càng nâng cao sẽ thúc đẩy sự ổn định trong hệ thống tổ chức. Am hiểu kỹ năng kế toán là tất yếu và cần có của mỗi chủ DN (Ekwe và Abuka, 2014). Nghiên cứu của Udin và công sự (2017), trong nghiên cứu thực tiễn kế toán của các DNWN ở Rangpur, Bangladesh cho rằng kế toán cung cấp nguồn thông tin cho chủ DN bất kỳ ngành nào để sử dụng có hiệu quả, nhưng nhiều chủ DN hoặc người quản lý điều hành kinh doanh mà không có bất kỳ một phán đoán tài chính hoặc kế toán nào, đưa ra quyết định dựa trên cảm tính mà không có sự hỗ trợ hoặc tham mưu từ công tác của kế toán tại DN.
Phân tích và xử lý thống kê nguồn dữ liệu khảo sát của nghiên cứu, kết quả cho thấy mức độ tầm quan trọng của việc tổ chức thiết lập một hệ thống vận hành kế toán ở các chủ DN vẫn còn rất thấp, kết quả khảo sát thu được đều đồng ý rằng: người trực tiếp quản lý và ông chủ DN cần được tham giao đào tạo và am hiểu về kế toán, tổ chức đào tạo cho chủ DN và nhân viên kế toán là giải pháp tốt nhất cho hệ thống kế toán vận hành. Nghên cứu của Ciuhureanu (2018), kết quả cho thấy được các nhân tố chính ảnh hưởng đến việc lựa chọn cách thức TCCTKT để từ đó các chủ DN lựa chọn để TCCTKT trong các loại hình công ty và hoạt động lĩnh vực kinh doanh phù hợp. Tác giả bàn luận ba loại hình cho việc lựa chọn TCCTKT, đó là: TCCTKT nội bộ trong DN, thuê dịch vụ kế toán bên ngoài hoặc sử dụng cả hai giả thuyết trên. Tác giả thiết lập bảng câu hỏi với mẫu khảo sát là 301 DN đang hoạt động SXKD tại Miền Trung - Romania với mô hình dự kiến ban đầu có 2 nhân tố dự kiến là quy mô DN và lĩnh vực kinh doanh.
Tuy nhiên sau khi xử lý kết quả có được từ bảng khảo sát, sự lựa chọn hình thức TCCTKT trong DN nhằm đưa ra tổng quan các tác nhân gây ảnh hưởng đến TCCTKT như sau: quy mô DN; ngành nghề kinh doanh, chi phí TCCTKT, năng lực kiến thức của kế toán, cung cấp thông tin đến người dùng và cuối cùng là độ tin cậy của các nhà quản lý với điều hành bộ máy kế toán. Theo ý kiến của tác giả nói rằng, nhân tố chính mà ảnh hưởng đến cách tổ chức của 9 kế toán là “kiến thức và kỹ năng” về chuyên môn kế toán, tiếp theo là tin cậy và chi phí. Bên cạnh đó sự phát triển không ngừng của cách mạng công nghệ, nghiên cứu đo lường vai trò và mức độ tác động của CNTT đối với hệ thống tổ chức công việc ké toán của tác giả Jasim và Raewf (2020), có thể cung cấp cho các nhà nghiên cứu hiểu về tầm quan trọng của kỹ năng ứng dụng CNTT vào hệ thống kế toán và nâng cao hiệu quả làm việc trong một tổ chức kế toán của DN.