CHƯƠNG 1: MỞ ðẦU CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM CHƯƠNG 3: MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN 123doc 4 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 2.1 Các lý thuyết về cấu trúc vốn Có rất nhiều các nghiên cứu thực nghiệm nhằm mục ñích cung cấp hỗ trợ cho một lý thuyết cụ thể, nhưng có nhiều vấn ñề phát sinh là cùng một lý thuyết nhưng lại có nhiều quan ñiểm của nhiều trường phái khác nhau dẫn ñến nhiều kết quả nghiên cứu thực nghiệm khác nhau cho cùng một lý thuyết. Trong những thập kỷ gần ñây vẫn chưa có một cơ sở thực nghiệm nào vững chắc ñể phân biệt ñiểm mạnh, ñiểm yếu của các lý thuyết chính và các ứng dụng thực tế của lý thuyết cấu trúc vốn vẫn mang lại nhiều kết quả khác nhau., 2000) Là một phần quan trọng của lý thuyết tài chính Phương Tây, lý thuyết cấu trúc vốn hiện ñại bắt ñầu với lý thuyết Modigliani và Miller (M&M). Theo lý thuyết, dưới ñiều kiện thị trường hoàn hảo không có thuế thu nhập doanh nghiệp, chi phí cận biên của tài trợ nợ phải bằng chi phí cận biên của vốn chủ sở hữu, có nghĩa là không có mối quan hệ giữa thuế thu nhập và cấu trúc vốn. Modigliani và Miller (1963) tiếp tục ñề xuất rằng kể từ khi lãi suất ñược khấu trừ thuế nhưng cổ tức thì không, vì vậy cấu trúc vốn tối ưu nên ñược tài trợ hoàn toàn bằng nợ.
Kraus và Litzenberger (1973) ñã chứng minh rằng cấu trúc vốn là một sự ñánh ñổi giữa tiết kiệm tiền thuế và chi phí phá sản từ vốn vay. Miller (1977) lại cho thấy một mô hình cấu trúc vốn mà có sự kết hợp thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp. Và chỉ ra rằng doanh nghiệp có mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp cao hơn có xu hướng mắc nợ nhiều hơn. Theo lý thuyết tài chính Phương Tây, sự lựa chọn của phương pháp tài chính doanh nghiệp thường theo lý thuyết trật tự phân hạng.
Trong lý thuyết này, ñầu tiên các công ty sẽ cân nhắc việc sử dụng tài chính nội bộ, sau ñó sẽ xem xét tài trợ bằng nợ, và cuối cùng là vốn chủ sở hữu. Nhiều lý thuyết về cấu trúc vốn ñã ñược ñề xuất, nhưng chỉ có một vài lý thuyết chính ñược nhiều người ủng hộ. Hầu hết trong các giáo trình Tài chính doanh 123doc 5 nghiệp hầu hết chỉ ñề cập ñến “Lý thuyết ñánh ñổi cấu trúc vốn” mà trong ñó chi phí kiệt quệ tài chính ñược nhắc ñến. Myer (1984) ñề xuất “Lý thuyết trật tự phân hạng” trong ñó ñề cập ñến hệ thống phân cấp tài chính của lợi nhuận giữ lại, nợ và vốn chủ sở hữu.
Và lý thuyết “Chi phi phí ñại diện” và “Thông tin bất cân xứng” lại ẩn nấp trong các lý thuyết.1 Lý thuyết cấu trúc vốn của Modigliani và Miller (M&M) Lý thuyết M&M do hai nhà nghiên cứu Franco Modigliani và Merton Miller ñưa ra vào năm 1958, là một phần quan trọng trong những lý thuyết cơ bản nghiên cứu về cấu trúc vốn của doanh nghiệp ở Phương Tây. Trong nghiên cứu lý thuyết, mô hình tài chính M&M là lý thuyết ñược chấp nhận rộng rãi nhất. Lúc ñầu, mô hình MM giả ñịnh thị trường là hoàn hảo, và thuế thu nhập doanh nghiệp không phải là một yếu tố ñáng quan tâm, thị trường vốn ñược cân bằng, không có chi phí giám sát và chi phí phá sản, nhà ñầu tư là hợp lý và có kỳ vọng như nhau về lợi nhuận. Không có mối quan hệ giữa giá trị của doanh nghiệp và tỷ lệ nợ trên vốn cổ phần.
Theo M&M “Giá trị của công ty không sử dụng ñòn bẩy tài chính và giá trị của công ty sử dụng ñòn bẩy tài chính là như nhau”. Các giả thuyết của M&M ñưa ra dựa trên các ñiều kiện hoàn hảo của thị trường. Tuy nhiên trên thực tế luôn tồn tại các bất hoàn hảo thị trường cho dù thị trường có tự ñiều tiết tốt ñến ñâu ñi nữa nhưng cũng không bao giờ ñạt ñược hoàn hảo 100%. Như các nhà ñầu tư khi tham gia thị trường thì sẽ luôn luôn tốn một khoản chi phí nhiều hay ít tùy theo mức ñộ vay và khả năng tiếp cận thị trường vốn của cá nhân, công ty ñó.
Kể từ khi các loại thuế là phổ biến trong ñời sống kinh tế và xã hội. Modigliani và Miller (1963) thêm thuế như là yếu tố cần xem xét và cho ra ñời mô hình MM mới. Các ñiểm chính của lý thuyết này là do sự tồn tại của thuế thu nhập doanh nghiệp, lãi vay có thể khấu trừ thu nhập, vì vậy nó có thể làm giảm số thuế phải nộp, tăng lưu lượng tiền mặt của công ty, do ñó giá trị doanh nghiệp sẽ tăng lên nhờ cải thiện tỷ lệ nợ trên tài sản.2 Lý thuyết ñánh ñổi cấu trúc vốn Dựa trên mô hình MM, các yếu tố khác có thể ảnh hưởng ñến cấu trúc vốn của doanh nghiệp ñược thêm vào, cấu trúc vốn tối ưu của doanh nghiệp ñạt ñược bằng cách ñánh ñổi lợi ích của việc vay nợ và chi phí của việc vay nợ. Nếu một công ty phụ thuộc quá nhiều vào nợ vay, sẽ cải thiện các ñòn bẩy tài chính của các doanh nghiệp, dẫn ñến một rủi ro tài chính lớn hơn, ñó là, chi phí phá sản.
Với mỗi phần trăm tăng lên của tỷ lệ nợ vay trong cấu trúc vốn khi mà lợi ích ñạt ñược từ lá chắn thuế tăng lên cũng ñồng nghĩa là chi phí tài chính tăng lên. Ưu ñiểm thứ nhất của lý thuyết ñánh ñổi là lý thuyết này ñã giải thích ñược rằng tỷ lệ nợ của các doanh nghiệp là không giống nhau. Lý thuyết này cho rằng, các công ty có tỷ lệ tài sản hữu hình cao thì có tỷ lệ nợ vay cao, trong khi các công ty có ít tài sản cố ñịnh lại có ít cơ hội tiếp cận với nguồn vốn vay do ít có tài sản ñể thế chấp. Ưu ñiểm thứ hai là lý thuyết này cho rằng các doanh nghiệp hoạt ñộng tốt nên tận dụng nguồn vốn vay ñể tối ña hóa giá trị doanh nghiệp trong khi các doanh nghiệp ñang có một gánh nặng nợ thì nên sử dụng vốn cổ phần ñể tài trợ cho các quyết ñịnh ñầu tư của mình hay các doanh nghiệp có thể bán bớt tài sản, phát hành cổ phần mới, hạn chế chia cổ tức nhằm mục ñích huy ñộng nguồn tiền mặt ñể cân ñối lại cấu trúc vốn của doanh nghiệp khi cần thiết.
Tuy nhiên, bên cạnh những ưu ñiểm trên thì lý thuyết này lại không chỉ ra ñược tại sao một doanh nghiệp rất thành công lại gần như không sử dụng tấm chắn thuế hay nói cách khác là không sử dụng nợ vay trong cấu trúc vốn của mình ñể tiết kiệm thu nhập từ tiền thuế phải nộp. ðiều này là mâu thuẫn so với những lập luận ñã chỉ ra. Robichek và Myers (1966) ñề xuất rằng cấu trúc vốn tối ưu của công ty có thể ñược xác ñịnh bằng cách cân ñối chi phí phá sản và khấu trừ thuế của việc vay nợ. Kraus và Litsenberser (1973) ñã thực hiện một mô hình và thấy rằng một công ty mà không ñược tài trợ 100% bằng nợ cũng có thể làm cân bằng chi phí phá sản và khấu trừ thuế.
Dựa trên hai mô hình, Jensen và Meckling (1976), và Miller (1977) ñã thêm các chi phí ñại diện như một yếu tố, và cho ra ñời một lý thuyết ñánh ñổi 123doc 7 cấu trúc vốn mới ñược cân nhắc giữa chi phí phá sản, chi phí ñại diện và chi phí khấu trừ thuế. Với một loạt lý thuyết ñánh ñổi cấu trúc vốn tương tự ñã ñược ñề xuất, lý thuyết MM cũ mà theo giả ñịnh nghiêm ngặt ñã ñược mở rộng, do ñó rút ra kết luận rằng, xem xét sự tồn tại của chi phí rủi ro tài chính và chi phí ñại diện, một công ty không thể sử dụng 100% nợ vay ñể tài trợ cho cấu trúc vốn của mình.3 Lý thuyết trật tự phân hạng Lý thuyết trật tự phân hạng bắt ñầu từ nghiên cứu của Myers và Majluf năm 1984 ñã giải thích lý thuyết trật tự phân hạng bằng cách dẫn vào lý thuyết thông tin bất ñối xứng. Thông tin bất cân xứng là một khái niệm cho rằng các giám ñốc tài chính là người hiểu rõ hơn về tình hình công ty, các chỉ số tài chính, giá trị doanh nghiệp mình hơn là những nhà ñầu tư bên ngoài. Thứ tự ưu tiên của lý thuyết trật tự phân hạng cho rằng: Nguồn vốn nội bộ luôn ñược ưu tiên hàng ñầu cho các quyết ñịnh ñầu tư, tài trợ của doanh nghiệp.
Các giám ñốc tài chính không phải giải thích lý do cho việc ñưa ra quyết ñịnh của mình cho các nhà ñầu tư bên ngoài, những người luôn nghi ngờ về tình hình ñầu tư, hoạt ñộng của doanh nghiệp. Tiếp theo ñó là việc phát hành chứng khoán nợ là một yếu tố không thể bỏ qua. Các chủ nợ sẽ luôn nhận ñược một khoản thanh toán cố ñịnh vào thời ñiểm xác ñịnh trước nếu như bỏ qua việc lo ngại về khả năng kiệt quệ tài chính. Và sau cùng là hình thức phát hành cổ phần thường.
Dựa trên lý thuyết trật tự phân hạng, so với tài chính bên ngoài, các công ty sẽ nghiêng nhiều hơn về tài chính nội bộ. Nếu họ phải sử dụng các nguồn tài chính bên ngoài, các công ty sẽ ưu tiên ñể phát hành trái phiếu hơn là phát hành cổ phiếu. Thông thường, trật tự phân hạng có thể ñược hiểu là sự phát sinh bởi các chi phí giao dịch và chi phí phân phối. Nếu doanh nghiệp lựa chọn ñể sử dụng lợi nhuận chưa phân phối có nghĩa là không có các chi phí giao dịch, chi phí giao dịch ñược tạo ra bởi việc phát hành trái phiếu sẽ thấp hơn so với chi phí giao dịch ñược tạo ra bởi sự phát hành cổ phiếu.
Nếu các doanh nghiệp có thu nhập chịu thuế doanh 123doc 8 nghiệp, vốn vay còn liên quan ñến số tiền thu ñược từ tấm chắn thuế. Các mô hình phát tín hiệu cho thấy, trong lý thuyết trật tự phân hạng của cấu trúc vốn, thông thường, những công ty có lợi nhuận thấp sẽ chọn ñể phát hành cổ phiếu. ðối với các nhà ñầu tư hợp lý, họ sẽ yêu cầu chiết khấu IPO (Initial Public Offering- phát hành cổ phiếu ra công chúng lần ñầu). Việc chiết khấu là chi phí của vốn chủ sở hữu của.
Do ñó, nếu một công ty ñã chọn việc vay nợ, thường có nghĩa là công ty này ñang trong tình trạng tốt.