Chương 1: Cơ sở lý luận Chương 2: Tổ chức phương pháp và nghiên cứu Chương 3: Phân tích kết quả nghiên cứu 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu về liệu pháp chú tâm Các nghiên cứu về chú tâm trên thế giới Rofkahr (2014) đã tiến hành tìm kiếm với từ khóa ―mindfulness‖ và nhận thấy sự quan tâm chú ý về trị liệu chú tâm trong lĩnh vực sức khỏe tâm thần tăng lên nhanh chóng. Vào những năm 1990, chỉ có khoảng 10 bài báo viết về lĩnh vực này nhưng đến cuối năm 2012, đã có khoảng 2500 bài báo khoa học cho ra mắt về đề tài này (Black, 2014) và tới năm 2014, số bài báo đã lên đến 4403 (trích dẫn bởi Wheeler, 2015) [80].
Cho đến ngày nay, phần lớn các nghiên cứu sử dụng chú tâm trong trị liệu và tham vấn đều tập trung vào tìm hiểu định nghĩa chú tâm, điều tra những lợi ích mà chú tâm mang lại cho cả nhà trị liệu và thân chủ, tác động tích cực của chú tâm lên quá trình trị liệu. Ban đầu, các nhà nghiên cứu tập trung tìm hiểu về thuật ngữ chú tâm. Thuật ngữ ―chú tâm‖ được cho là xuất phát từ thuật ngữ ―sati‖ trong tiếng Pali có nghĩa là ―nhận biết, chú ý và ghi nhớ‖ [63]. Rất nhiều nhà nghiên cứu định nghĩa chú tâm là một trạng thái của tâm thức khác biệt hẳn với trạng thái ý thức thông thường của con người trong đời sống hàng ngày.
Đó là một trạng thái ý thức đầy tỉnh táo, đặc trưng bởi sự nhận biết rõ ràng những trải nghiệm bên trong (Johanson & Kurtz, 1991) [37]. Toneatto và cộng sự vào năm 2007 đã định nghĩa rằng chú tâm bắt nguồn từ lý thuyết của Phật giáo, nhằm làm giảm hoặc điều chỉnh lại xu hướng tư duy sai lầm của thân chủ. Trong khi chú tâm, thân chủ được khuyến khích quan sát những hoạt động nhận thức, những suy nghĩ đang xảy ra trong tâm trí nhưng không được khuyến khích sử dụng bất kì hoạt động nhận thức nào để phân tích tư duy của mình, ví dụ như hoạt động phân tích, phán xét [76]. Nhiều nhà nghiên cứu còn chia nhỏ chú tâm thành ba thành tố chính, đó là sự chú ý, thái độ và có mục đích.Shapiro và cộng sự (2006) cho rằng thành tố đầu tiên- sự chú ý có nghĩa là giữ được sự chú ý vào khoảnh khắc hiện tại.Điều này đòi hỏi thân chủ cần ngừng lại mọi cách thức diễn dịch những trải nghiệm và đơn giản là chú ý đến chính 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bản thân trải nghiệm.Ngược lại với sự chú tâm là bị chìm đi trong dòng suy nghĩ hoặc để mặc cho những suy nghĩ tự động xuất hiện mà không nhận biết chúng.Trong khi thực hành thiền chú tâm, thân chủ sẽ luyện tập để nắm bắt những khoảnh khắc khi suy nghĩ bị trôi dạt khỏi trạng thái hiện tại và hướng sự chú ý một cách nhẹ nhàng về lại khoảnh khắc bây giờ và ở đây.Qua thời gian, khả năng của thân chủ chỉ chú ý đến hiện tại mà không bị xao nhãng sẽ dần được cải thiện.
Sự chú ý có thể tập trung vào ba đối tượng: cơ thể và tâm trí của thân chủ, và mối quan hệ trị liệu giữa thân chủ và nhà trị liệu trong từng giây phút hiện tại [70]. Yếu tố thứ hai là thái độ của thân chủ. Siegel (2007) liệt kê những thái độ cần có trong khi thực hành chú tâm, đó là: thích khám phá, sự cởi mở, khả năng chấp nhận và tình yêu thương. Nếu sự chú ý là tập trung vào những trải nghiệm ở khoảnh khắc hiện tại thì thái độ phản ánh tính chất của sự chú ý đó, là cởi mở, chấp nhận và quan tâm [71].
Yếu tố thứ ba là cần có mục đích. Mục đích phản ánh rõ ràng lý do tại sao thân chủ cần tập luyện, đâu là động lực, các giá trị và những mong muốn mạnh mẽ khiến thân chủ thực hành chú tâm. Chú tâm không phải là mục tiêu cuối cùng, không phải là đích đến cần đạt được mà là con đường để định hướng cho thân chủ hiểu về bản thân và những giá trị mình mong muốn [12]. Tiếp đó là các xu hướng nghiên cứu về tác động tích cực của chú tâm lên thân chủ thông qua rất nhiều phương diện khác nhau như: + Phá vỡ vòng tròn luẩn quẩn của những trải nghiệm tiêu cực Chúng phá vỡ những vòng tròn luẩn quẩn của những trải nghiệm tiêu cực bên trong, như sự lo lắng về một sự kiện có thể xảy ra trong tương lai, sự ám ảnh của những sự kiện trong quá khứ bằng cách chỉ tập trung vào hiện tại.
Niềm tin, thói quen suy nghĩ, cảm giác và cách nhận thức sẽ quyết định cách mà một người quan sát thế giới bên ngoài, chú tâm cho phép họ quan sát niềm tin của mình và những hậu quả tiềm tàng của nó mà không chấp nhận chúng là sự thật (Tart, 1994) [74]. Chú tâm cũng dẫn đến sự tập trung vào quá trình hành động hoặc bản chất của hoạt động, khiến cho niềm vui thích, hài lòng khi trải nghiệm trong suốt quá trình này được tăng lên và làm giảm đi tâm trạng tiêu cực khi có thể không đạt được mục tiêu cuối cùng (Borkovec, 2002) [11]. + Điều tiết cảm xúc: Có bằng chứng cho thấy chú tâm giúp điều tiết cảm xúc một cách hiệu quả trong não bộ ((Corcoran,Farb, Anderson, & Segal, 2010; Siegel, 2007) [20], [71]. Về cơ chế 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thay đổi này, Corcoran và cộng sự đã đưa ra lý thuyết rằng thực hành chú tâm sẽ phát huy được khả năng nhận biết suy nghĩ, giảm đi những suy nghĩ miên man, chìm đắm vào một đối tượng, hạn chế hoạt động nhận thức lặp đi lặp lại và nâng cao khả năng chú ý thông qua sự tăng cường trí nhớ làm việc, từ đó giúp điều tiết cảm xúc hiệu quả.
Để chứng minh cho mô hình của Corcoran và cộng sự, có rất nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng thiền tập chú tâm có mối tương quan nghịch chiều với những suy nghĩ ám ảnh và liên quan trực tiếp đến sự điều tiết cảm xúc (Chambers, Lo, & Allen, 2008) [18]. Cụ thể, trong nghiên cứu của Chambers và cộng sự, có 20 người thực hành thiền chú tâm trong vòng 10 ngày liên tục được so sánh với nhóm đối chứng trên nhiều yếu tố. Kết quả là nhóm thiền tập chú tâm có những thay đổi rõ rệt về kĩ năng chú tâm, giảm các trạng thái cảm xúc tiêu cực, các biểu hiện của trầm cảm giảm xuống, ít suy nghĩ ám ảnh hơn so với nhóm đối chứng.Hơn nữa, nhóm thực nghiệm còn thể hiện trí nhớ làm việc tốt hơn và khả năng duy trì chú ý lâu hơn trong quá trình thực hành nhiệm vụ [18]. Chambers và cộng sự đã nhận ra rằng luyện tập chú tâm làm giảm đi những suy nghĩ dai dẳng ám ảnh cho những thân chủ rối loạn khí sắc mãn tính [18].
Nhà nghiên cứu Way, Creswell, Eisenberger và Lieberman (2010) nghiên cứu mối quan hệ giữa chú tâm, những đặc điểm trầm cảm và hoạt động của não bộ ở đối tượng người trưởng thành. Hoạt động của hạch hạnh nhân trong não bộ có mối liên kết thuận với các triệu chứng trầm cảm.Bởi vậy, nghiên cứu chỉ ra rằng chú tâm giúp thay đổi trạng thái hoạt động của hạch hạnh nhân, giúp phòng ngừa và giảm thiểu những trạng thái cảm xúc trầm cảm [79]. Như vậy, các nghiên cứu còn chỉ ra rằng thiền tập chú tâm giúp sản sinh ra những cảm xúc tích cực, giảm thiểu cảm xúc tiêu cực và các suy nghĩ dai dẳng ám ảnh, từ đó giúp cơ thể điều tiết cảm xúc tốt hơn. +Giảm phản ứng tự động và tăng phản ứng linh hoạt: Nghiên cứu chứng minh rằng thiền chú tâm giúp con người ít phản ứng tự động(Goldin & Gross, 2010; Siegel, 2007) [30] [71] và tăng sự linh hoạt trong nhận thức và phản ứng (Siegel, 2007) [71].
Bằng chứng nghiên cứu cho thấy những người thiền tập chú tâm phát triển được kĩ năng tự quan sát chính mình, thoát khỏi những lối suy nghĩ tự động từ trước được hình thành từ kinh nghiệm quá khứ và từ đó những trải nghiệm ở hiện tại được thu nhận theo một cách hoàn toàn mới mẻ (Siegel, 2007) [71]. Việc thực hành chú tâm giúp kích hoạt các vùng trên não bộ có liên quan đến khả năng 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phản ứng thích nghi với yếu tố gây stress (Davidson và cộng sự, 2003)[22]. Sự kích hoạt các vùng não này giúp nâng cao khả năng hồi phục của trạng thái cảm xúc ( Davidson, Jackson, & Kalin, 2000) [21]. Một nghiên cứu gần đây cũng điều tra mức độ tác động của chương trình Liệu pháp trị liệu stress dựa trên chú tâm (MBSR) trong việc điều tiết cảm xúc và niềm tin vào bản thân ở nhóm người trưởng thành có rối loạn lo âu xã hội (Goldin & Gross, 2010) [30].
Những người tham gia cần phải hoàn thành hai nhiệm vụ trước và sau khi tham gia 8 tuần đào tạo. So sánh giữa hai lần thực hiện, người tham gia thể hiện mức độ cảm xúc tiêu cực thấp hơn, hoạt động của hạch hạnh nhân cũng giảm đi, và hoạt động ở các vùng não khác có liên quan đến độ tập trung chú ý được tăng lên[34]. + Tăng cường chất lượng mối quan hệ: Chú tâm có tác động như thế nào đến những hành vi liên cá nhân đã được điều tra trong khá nhiều nghiên cứu như nghiên cứu về cách thức ứng xử chú tâm của các cặp đôi (Block-Lerner, Adair, Plumb, Rhatigan, & Orsillo, 2007) [9], tăng cường mối quan hệ dựa trên chú tâm (Carson, Carson, Gil, & Baucom, 2006) [16]. Các bằng chứng chỉ ra rằng chú tâm dự đoán được sự thỏa mãn trong mối quan hệ, khả năng ứng xử mang tính xây dựng đối với những stress trong mối quan hệ, kĩ năng nhận diện và trao đổi cảm xúc với người kia, giải quyết những xung đột trong mối quan hệ, tăng cường sự thấu cảm (Barnes, Brown, Krusemark, Campbell, & Rogge, 2007) [6].
Barnes và cộng sự cũng tìm ra rằng những người có khả năng chú tâm cao hơn sẽ ít hứng chịu những stress cảm xúc như giận dữ, lo âu khi phản ứng với xung đột trong mối quan hệ. Như vậy, các bằng chứng khoa học đã cho thấy chú tâm giúp ứng phó với cảm xúc stress (Barnes và cộng sự, 2007) [6], liên kết tích cực với khả năng thể hiện bản thân ở trong các tình huống xã hội khác nhau (Dekeyser và cộng sự, 2008) [24] và tăng sự hài lòng trong mối quan hệ (Barnes và cộng sự, 2007) [6].