Chương 1 CO SO LY LUAN VE NHAN THUC VA HANH VI CUA PHU NU TRONG SUC KHOE SINH SAN 1. Các khái niệm cơ bản 1. Định nghĩa Theo Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê, “nhận thức là quá trình hoặc kết quả phản ánh và tái hiện vào trong tư duy, là quá trình con người nhận biết, hiểu biết về thế giới khách quan hoặc kết quả nghiên cứu của quá trình đó ” [34, tr.882] Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, “nhận thức là quá trình biện chứng của sự phản ánh thế giới khách quan trong ý thức con người, nhờ đó con người tư duy và không ngừng tiễn đến gân khách thể” [32, tr.589] Theo quan điểm triết học Mác-Lênin, “nhận thức được định nghĩa là quá trình phản ánh biện chứng hiện thực khách quan vào trong bộ óc của con người, có tính tích cực, năng động, sáng tạo, trên cơ sở thực tiễn ” [28, tr. Trong Bút ký triết học, V.
Lênin đã khắc họa một cách cô đọng bản chất của nhận thức. Ông cho rằng, con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, của sự nhận thức thực tại khách quan, “?? rực quan sinh động đến tr duy trừu tượng, và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn” [56, tr. Theo quan điểm đó, nhận thức là một quá trình biện chứng, diễn ra qua hai giai đoạn: nhận thức cảm tính (trực quan sinh động) và nhận thức lý tính (tư duy trừu tượng). Lénin lai cho rằng, “nhận thức là sự phản ánh thế giới khách quan bởi con người nhưng không phải là sự phản ánh đơn thuần, trực tiếp hoàn toàn.
Quá trình này là cả một chuỗi những trừu tượng, sự cấu thành và sự hình thành nên các khái niệm, quy luật và chính các khái niệm, quy luật này lại bao quát một cách cé diéu kiện gân đúng tính quy luật phổ biến của thể giới tự nhiên vĩnh viễn vận động và phát triển” [57, tr. Sự nhận thức của con người vừa ý thức, vừa vô thức, vừa cụ thể, vừa trừu tượng và mang tính trực giác. Quá trình nhận thức sử dụng tri thức có sẵn và tạo ra tri thức mới. 16 Tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng: “Nhận thức là quá trình phản ánh hiện thực xung quanh, hiện thực của bản thân mình, trên cơ sở đó con người tỏ thái độ và hành động đối với thế giới xung quanh và đối với bản thân mình” [20, tr.
Còn theo tác giả Vũ Dũng thì “nhận thức là hiểu được một điều gì đó, tiếp thu được những kiến thức về điều nào đó, hiểu biết những quy luật về hiện tượng, quá trình nào đó.Theo những quan điểm vừa nêu trên, hau hết các tác giả đều nhắn mạnh nhận thức là một quá trình tâm lý, điều này có nghĩa là nhận thức có mở đầu, diễn biến và kết thúc. Mở đầu của quá trình nhận thức là sự tác động của thế giới khách quan vào các giác quan và bộ não của chủ thể, sau đó não bộ sẽ xử lý và mã hoá thông tin tạo ra sản phẩm của quá trình nhận thức. Tuy nhiên, những định nghĩa trên chỉ mới dùng ở việc xét nhận thức như một quá trình tâm lý mà chưa xem xét vai trò của những sản phâm do nhận thức tạo ra. Có thé thấy, các tác giả xem nhận thức là một quá trình riêng lẻ của tâm lý người.
Trong thực tế ta thấy rằng: “Nhận thức là một trong ba mặt của đời sống tâm lý con người ”, theo đó, cần hiệu “nhận thức như một quá trình tâm lý và xét nhận thức với các mặt còn lại của đời sống tâm lý để có những cái nhìn nhận toàn diện và sâu sắc nhất”. Do vậy, có thể hiểu “nhận thức ( cognitive) là một thuật ngữ đề cập đến các quá trình tỉnh thần liên quan đến việc đạt được trì thức và thông hiểu, bao gồm tư duy, hiểu biết, ghỉ nhớ, đánh giá và giải quyết ván đề”. Đây là những chức năng nâng cấp cao hơn của não bộ bao gồm ngôn ngữ, tưởng tượng, tri giác và lập kế hoạch. Trong cuộc sống, con người luôn luôn nhận thức sự vật, hiện tượng xung quanh mình, đồng thời con người cũng tự nhận thức bản thân mình, chịu sự tác động liên tục của hiện thực khách quan, con người sẽ phản ảnh hiện thực khách quan ấy và tạo nên đời sống tâm lý của mình.
Nói cách khác, con đường phản ánh hiện thực khách quan bằng các giác quan, bằng những tín hiệu đặc biệt khác với sự tham gia của não bộ được gọi là nhận thức. Bản chất của nhận thức Hoạt động nhận thức là cơ sở của mọi hoạt động tâm lý người. Nhờ nhận thức, conngười mới có cảm xúc, tình cảm, mới có ý chí và mới có hành động được. Nhận thức là tiền đề cho các hiện tượng tâm lý khác.
Hoạt động nhận thức không chỉ phản ánh hiện thực xung quanh ta mà còn phản ánh cả hiện thực của bản thân ta, nó không chỉ phản ánh hiện thực bên ngoài mà còn phản ánh cái bên trong, không chỉ phản ánh hiện tại mà còn phản ánh cái đã qua và cái sẽ tới của hiện thực khách quan. Bản chất của quá trình nhận thức bao gồm một số đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhất, nhận thức là một quá trình hoạt động: Ở con người, quá trình nhận thức thường gắn với mục đích và động cơ nhất định nên nhận thức của con người là một hoạt động. Đặc điểm nổi bật nhất của hoạt động nhận thức là tri thức về hiện thực khách quan. Nó không chỉ là tri thức về các thuộc tính bên ngoài mà còn là tri thức về các thuộc tính bên trong.
Hoạt động nhận thức là cơ sở của mọi hoạt động tâm lý người. Nhận thức là hoạt động khám phá thế giới xung quanh của chủ thể, nhằm tìm ra chân lý hay sự thật về những thuộc tính và quy luật khách quan của sự vật, hiện tượng. Nhận thức đúng làm cơ sở cho tình cảm, ý chí, quan điểm, lập trường, tư tưởng và hành động đúng. Hoạt động nhận thức thể hiện ởnhững mức độ nhận thức khác nhau và mang lại sản phẩm khác nhau về hiện thực khách quan.
Thứ hai, nhận thức mang bản chất xã hội lịch sử: Hoạt động nhận thức bao giờ cũng phải dựa vào những tri thức đã có, dựa vào kinh nghiệm của nhân loại đã tích luỹ được, tức là dựa vào kết quả nhận thức xã hội mà loài người đã đạt được ở trình độ phát triển lịch sử lúc đó. Nhận thức phải sử dụng các ngôn ngữ khác nhau do các thế hệ trước sáng tạo ra với tư cách là phương tiện biểu đạt, khái quát và giữ gìn kết quả hoạt động nhận thức được thúc đây bởi nhu cầu xã hội, nghĩa là ý nghĩa của con người được hướng vào giải quyết các vấn đề bức xúc do xã hội đặt ra. Nhận thức của con người mang tính chất lịch sử, bởi bề rộng của sự khái quát và chiêu sâu của việc phát hiện ra bản chât của sự vật hiện 18 tượng được quy định không chỉ bởi khả năng của cá nhân, mà còn bởi kết quả nhận thức mà loài người đã đạt được 1. Các giai đoạn của quá trình nhận thức Khi nhận thức về thế giới xung quanh, con người có thể nhận thức cái bên ngoài và cả cái bên trong của sự vật, hiện tượng, có thể nhận thức cái đã có, cái đang có, và cả cái sẽ có, có thể nhận thức cái cụ thể, cái khái quát, cái quy luật của sự vật,.
Từ đó có thể nhận thấy, nhận thức là một hoạt động tâm lý rất phức tạp, đa dạng, và ở nhiều mức độ khác nhau. Tuy nhiên, có thể chia hoạt động nhận thức thành hai giai đoạn: nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính [22, tr. Cụ thể: Nhận thức cảm tính: Quá trình nhận thức cảm tính là mức độ thấp của hoạt động nhận thức. Giai đoạn này bao gồm hai quá trình: cảm giác và trị giác.
Đặc điểm dễ nhận thấy của quá trình nhận thức cảm tính là quá trình tâm lý, phản ánh những thuộc tính bên ngoài của sự vật và hiện tượng trong hiện thực khách quan khi chúng trực tiếp tác động vào các giác quan của chúng ta [22, tr. Nhận thức cảm tính bao gồm 2 mức độ sau: + Cảm giác là hình thức đầu tiên thiết lập quan hệ tâm lý cơ thể với môi trường, mức độ phản ánh tâm lý thấp nhất, là hình thức khởi đầu trong sự phát triển của hoạt động nhận thức của con người [22, tr.Petrovski thi: “Cảm giác là một quá trình tâm lý đơn giản nhất phản ánh những thuộc tính riêng lẻ của sự vật, hiện tượng và trạng thái bên trong cơ thể dưới sự tác động trực tiếp của những kích vật chất lên các giác quan” Tuy nhiên định nghia: “Cam giác là quá trình nhận thức phản ánh một cách riêng lẻ từng thuộc tính của sự vật, hiện tượng khi chúng đang trực tiếp tác động vào giác quan” [22, tr84] chưa đầy đủ bằng: “Cảm giác là quá trình nhận thức phản ánh từng thuộc tính riêng lẻ bề ngoài của sự vật, hiện tượng và trạng thái bên trong của cơ thể khi chúng đang trực tiếp tác động vào các giác quan của ta” [20, tr. Cảm giác là viên gạch đầu tiên để xây dựng nên tòa lâu đài nhận thức. Cảm giác là hình thức đầu tiên của hoạt động nhận thức, nhờ các cơ quan cảm giác con người nhận được nguồn thông tin, tài liệu phong phú từ thế giới bên ngoài, cũng 19 như thông tin về trạng thái cơ thể mình.
Cảm giác là nguồn cung cấp nguyên liệu để con người tiến hành những hoạt động tâm lý cao hơn [22, tr. + Tri giác là qua trình tâm lý phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc tính của sự vật, hiện tượng, khi chúng trực tiếp tác động vào các giác quan [20, tr. Tri giác có một vai trò quan trọng đối với con người, nó là thành phần chính của nhận thức cảm tính. Nhận thức lý tính: Đây là mức độ nhận thức cao ở con người, trong đó con người phản ánh những thuộc tính bên trong, những mối quan hệ có tính quy luật của hiện thức khách quan một cách gián tiếp.
Nhận thức lý tính bao gồm tư duy và tượng. Như vậy, nhận thức có vai trò rất quan trọng đối với cuộc sống và hoạt động của con người, nhận thức là thành phần không thể thiếu trong sự phát triển của con người; là cơ sở để con người nhận biết thế giới và hiểu biết thế giới đó, từ đó con người có thê tác động vào thế giới đó một cách phù hợp nhất, đề đem lại hiệu quả cao nhất cho con người.