CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1.Vài nét tổng quan về tình hình nghiên cứu Thanh niên là tương lai, là rường cột của nước nhà, là nguồn lực lao động chủ yếu của đất nước do đó việc quan tâm đến sức khỏe của thanh niên về cả thể chất lẫn tinh thần là rất cần thiết. Có rất nhiều những nghiên cứu về thực trạng thanh niên với quan hệ tình dục trước hôn nhân thường được trình bày trong các nghiên cứu về các chủ đề liên quan khác như dân số kế hoạch hóa gia đình, sức khỏe sinh sản, HIV/AIDS. Trong đề tài “Tuổi VTN với vấn đề tình dục và các BPTT” do nhóm tác giả Chu Xuân Việt và Nguyễn Văn Thắng dưới sự chủ trì và giám sát của Ủy ban Quốc gia về Dân số và Kế hoạch hóa gia đình năm 1997.
Đề tài đã triển khai nghiên cứu trên 8 tỉnh, thành phố đại diện các vùng miền trong cả nước với 1033 VTN là học sinh phổ thông, 370 VTN đã thôi học, 207 VTN thôi học đã có vợ, có chồng; 239 cha mẹ VTN, 223 cán bộ quản lý các ngành liên quan và 37 chủ cửa hàng thuốc tư nhân. Nghiên cứu chỉ ra 33.4% cho rằng tình dục có nghĩa là tình yêu; 15,7% chấp nhận QHTD trước khi cưới nhếu cả hai cùng thích; 15,7% cho là được nếu chắc chắn sẽ lấy nhau. Bên cạnh 78,8% VTN cho rằng QHTD gắn với lương tâm, trách nhiệm và cũng có 3,4% cho rằng QHTD là để mua vui, giải trí. 26% VTN cho rằng đã có người yêu.
37,3% trong số ngày có người yêu ở tuổi 18, 28,5% ở tuổi 17 và có đến 10,4% có người yêu ở tuổi 14. Trong “Nghiên cứu tình dục ở Việt Nam – Những điều đã biết và chưa biết” (Khuất Thu Hồng – 2001) đã chỉ ra sự biến đổi trong quan niệm, thái độ và hành vi tình dục ở Việt Nam từ quá khứ đến hiện tại. Quan niệm về quan hệ tình dục và ý nghĩa của nó trong lớp trẻ hiện nay đã thay đổi rất nhiều, những người càng trẻ càng có xu hướng tự do hơn, không coi chuyện QHTD trước hôn nhân là điều kinh khủng như thế hệ trước đã nghĩ. 15 z Một nghiên cứu về “Nạo phá thai của nữ sinh viên qua nghiên cứu một số trường hợp trên địa bàn Hà Nội hiện nay” (Trần Thị Minh Thi, 2001), nghiên cứu đã chỉ ra nhiều sinh viên không coi trọng trinh tiết và gắn liền tình yêu và tình dục và một nguyên nhân dẫn đến nạo hút thai trong sinh viên là do thay đổi về giá trị, chuẩn mực.
Trong nghiên cứu “Tìm hiểu nhu cầu thông tin về sức khỏe sinh sản VTN qua nghiên cứu thư gửi về Chương trình “Cửa sổ tình yêu’, của Đài tiếng nói Việt Nam” (Nguyễn Thị Tuyết Minh, 2002) đã chỉ ra hiện tượng QHTD THN ngày càng trở nên phổ biến hơn, 70% sinh viên gọi điện xin tư vấn về tình dục, mang thai ngoài ý muốn và các biện pháp tránh thai. Đề tài “Thực trạng nhận thức và thái độ của học sinh Trung học phổ thông Hà Nội với giáo dục SKSS VTN những giải pháp trong thời gian tới” của Lê Thị Ngọc Bích, 2003 cũng đã đề cập đến vấn đề tình dục, quan hệ tình dục an toàn, thái độ của học sinh về hành vi quan hệ tình dục trước hôn nhân.2% học sinh được hỏi khẳng định có hiện tượng QHTD ở tuổi VTN, 18,3% cho rằng đây là hiện tượng phổ biến, 31,9% cho rầng có nhưng không phổ biến. Công trình về Quan điểm của sinh viên trường Đại học khoa học xã hội – nhân văn và Đại học khoa học tự nhiên, Đại học quốc gia Hà Nội về quan hệ tình dục trước hôn nhân, Khoa XHH 2B, 2006 cũng đề cập đến thực trạng quan hệ tình dục trước hôn nhân trong sinh viên có tới 23,1% số người được hỏi trả lời đã từng QHTD. Tỷ lệ nam sinh viên QHTD cao gấp 2,2 lần so với nữ sinh viên.4% QHTD lần đầu tiên khi 15 tuổi; Từ 15-17 tuổi chiếm 17,9%.
Tuổi trung bình có QHTD lần đầu tiên là 19,7 tuổi tương đương kết quả điều tra của SAVY (19,6 tuổi trong đó nam là 20 tuổi nữ là 19,4 tuổi). Dựa trên số liệu định lượng của cuộc “Điều tra cơ bản thực trạng bình đẳng giới và tác động của chính sách đối với phụ nữ, nam giới nhằm phục vụ công tác hoạch định chính sách ở Việt Nam” (Viện Khoa học xã hội, 2006), bài viết “Thái độ về quan hệ ngoài hôn nhân và tình dục” đã phân tích vấn đề thái độ về quan hệ tình dục trước hôn nhân trong mối tương quan với các yếu tố khu vực, nhóm tuổi và trình độ học vấn người trả lời. Kết quả nghiên cứu cho thấy những quan niệm và giá 16 z trị đạo đức truyền thống vẫn là yếu tố ảnh hưởng mạnh mẽ đến thái độ về tình dục ngoài hôn nhân nói chung và trước hôn nhân nói riêng. Quan hệ tình dục trước hôn nhân nhìn chung không được chấp nhận.
Nam đồng ý với vấn đề này nhiều hơn nữ. Nếu hai người có ý định tiến tới hôn nhân thì quan hệ tình dục dễ được chấp nhận hơn. Thái độ đồng ý với quan hệ tình dục trước hôn nhân tăng theo nhóm tuổi và trình độ học vấn. Cuộc điều tra ban đầu về Sức khỏe sinh sản thanh thiếu niên Việt Nam, 2006 của PGS.TS Nguyễn Thị Thiềng – Ths.
Lưu Bích Ngọc cũng cho thấy tỷ lệ thanh thiếu niên độc thân đang có người yêu cho biết đã từng có quan hệ tình dục chiếm 15,6%. Ở mọi độ tuổi, tỷ lệ nam muốn có QHTD trong lần quan hệ đầu tiên luôn cao hơn nữ (77,8% nam so với 63,2% nữ) qua đó cho thấy trong QHTD nam thanh thiếu niên thường chủ động còn nữ thì bị động. Thái độ của thanh thiếu niên đối với vấn đề QHTD trước hôn nhân không thống nhất, có người hoàn toàn phản đối, có người lại cho rằng tùy từng hoàn cảnh mà chấp nhận hay phản đối. Song cũng có ý kiến lại nhận định có thể hoàn toàn chấp nhận, coi nhu cầu QHTD cũng giống như nhu cầu cơm ăn, nước uống hàng ngày.
Đề tài: “Đoàn thanh viên với việc chăm sóc sức khỏe sinh sản cho VTN/TN” được Trung tâm Tổng hợp TTN, do TS Trần Văn Miều làm chủ nhiệm, năm 2006 đã nghiên cứu nhiều khía cạnh khác nhau về vai trò của Đoàn trong công tác chăm sóc SKSS VTN/TN, về quan hệ tình dục trước hôn nhân của VTN/TN; Một nghiên cứu về “Thái độ của sinh viên về quan hệ tình dục trước hôn nhân (nghiên cứu tại Đại học Quốc gia Hà Nội)” Mai Thanh Tú, Hà Nội 2007 đã đề cập đến thực trạng quan hệ tình dục trước hôn nhân của sinh viên có tới 22,6% số người được hỏi trả lời đã từng quan hệ tình dục trong đó 31,4% nam sinh viên đã từng QHTD, nữ là 14,1% tỷ lệ nam cao hơn 2,2 lần so với nữ, tuổi quan hệ lần đầu tiên là 19,77 tuổi. Trong số người đã từng QHTD, có 73,9% đã từng sử dụng một trong số các biện pháp tránh thai. Tỷ lệ sinh viên chấp nhận quan hệ tình dục trước hôn nhân là 21,4%, tương đương 1/5 số sinh viên trong mẫu điều tra. Đề tài cũng chỉ rất rõ những yếu tố tác động tới thái độ của sinh viên về vấn đề này; 17 z Bài báo “Xu hướng sống thử của thanh niên Việt Nam (Nguyễn Thị Quỳnh Hoa, 2007) dựa trên cuộc khảo sát trên Báo điện tử VnExpress.net và các ý kiến trên diễn đàn cho thấy con số những người sống thử chỉ bằng một nửa số người ủng hộ.
Đề tài: Hành vi tình dục và kiến thức tình dục an toàn của học sinh phổ thông trung học trên địa bàn hiện nay (nghiên cứu trường hợp trường phổ thông trung học Phan Đình Phùng – Quận Ba Đình – Hà Nội) Nguyễn Thanh Vân , 2008 đề tài đã đề cập đến về mức độ quan tâm, thái độ, những hiểu biết và hành vi của học sinh phổ thông trung học về tình dục an toàn và hành vi tình dục. Trong đó 28,4% có quan điểm có thể chấp nhận vấn đề QHTD THN, 13,2% cho là chuyện bình thường trong xã hội. Tỷ lệ quan điểm của nam thoáng hơn nữ. Độ tuổi QHTD từ 19-25 chiếm tỷ lệ đa số người lựa chọn.
Lý do có QHTD của đối tượng nghiên cứu cao nhất chủ yếu là do tò mò muốn thử nghiệm cảm giác. Đa số học sinh biết được mức độ ảnh hưởng của QHTD không an toàn tuy nhiên các em bị ảnh hưởng bởi phim ảnh mang tính kích dục và quan trọng hơn các em muốn thử nghiệm cảm giác, muốn khẳng định bản thân với bạn bè, gia đình về sự trưởng thành của mình. Đề tài “Nhận thức thái độ của sinh viên về quan hệ tình dục, tình yêu” (nghiên cứu trường hợp Đại học quốc gia Hà Nội, Chủ nhiệm đề tài: Mai Tuyết Hạnh, 2008 cũng đã nghiên cứu về nhận thức của sinh viên về quan hệ tình dục – tình yêu, về độ tuổi quan hệ tình dục, quan niệm về trinh tiết, kiến thức về tình dục và quan hệ tình dục, kiến thức về các biện pháp tránh thai và bệnh lây qua đường tình dục, thái độ của sinh về về quan hệ tình dục trước hôn nhân, một số các yếu tố tác động đến hành vi quan hệ tình dục của sinh viên. Đề tài “Yếu tố tác động tới hành vi tình dục trước hôn nhân của thanh niên Hà Nội trong bối cảnh hội nhập” (Phân tích số liệu Điều tra tình dục và sức khỏe sinh sản vị thành niên và thanh niên Hà Nội 2006) của Nguyễn Thị Hồng, 2008.
Đề tài cũng chỉ ra được thực trạng quan hệ tình dục trước hôn nhân của thanh niên Hà Nội trong bối cảnh đổi mới, chỉ ra các yếu tố tác động tới hành vi tình dục trước hôn nhân của thanh niên Hà Nội. Đặc biệt trên cơ sở phân tích thực trạng đề tài đưa ra các 18 z dự báo về xu hướng hành vi tình dục trước hôn nhân của thanh niên, đồng thời đề xuất về chính sách đối với vấn đề quan hệ tình dục trước hôn nhân của thanh niên. Đề tài “Thực trạng nhận thức, hành vi về tình dục và các biện pháp tránh thai của sinh viên các trường Đại học ở Hà Nội hiện nay” (Đề tài nghiên cứu tại Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn; Đại học Quốc gia Hà Nội; Đại học Bách khoa Hà Nội và Đại học Văn hóa Hà Nội), do Trương Thị Thúy Hạnh, 2009. Đề tài cũng đề cập đến thực trạng nhận thức, hành vi của sinh viên về tình dục, các biện pháp tránh thai, các bệnh lây truyền qua đường tình dục.