Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN NHẬN THỨC VÀ THÁI ĐỘ VỀ GIỚI TÍNH 1. Lịch sử nghiên cứu nhận thức và thái độ về giới tính 1. Lịch sử nghiên cứu nhận thức và thái độ về giới tính ngoài nước Ngay từ thời Cổ đại, giới tính đã được quan tâm tìm hiểu, tuy rằng rất thô sơ và mang màu sắc cảm tính, mê tín.
Từ thời kỳ xa xưa của văn minh loài người, giới tính đã được đề cập đến bằng một hệ thống thần thoại cổ đại và các kho khảo luận về tình yêu như Kinh “Kama Sutra” của Ấn Độ, “Nghệ thuật yêu” của Ovidius, “Chuỗi ngọc của người yêu” của Hazma, “Phaedr” và “Bữa tiệc” của Platon… Trong đó các tác giả “không những đặt cơ sở các chuẩn mực về đạo đức và tôn giáo cho tình yêu, mà còn cung cấp những kiến thức về sinh học và tâm lý học tình dục”.Kusniruk, Tính dục học phổ thông, Nxb Văn học, 1988 – tr 10 – 11. Thời kỳ Phục Hưng, bộ môn Giải phẫu và sinh học đã chạm tới khía cạnh của tính dục, phương diện giáo dục và đạo đức được các nhà nghiên cứu đặt lên hàng đầu. Vào cuối thế kỉ XVIII, đầu thế kỉ XIX, các đề tài nghiên cứu về giới tính được mở rộng hơn…sự phát triển quan hệ tính dục không những gắn với các dạng hôn nhân và gia đình, mà còn gắn cả với yếu tố khác của chế độ xã hội và văn hoá. Tiêu biểu cho giai đoạn này là các nhà khoa học J.
Kovalevxki (Nga)… Đầu thế kỉ XX, sự tham gia của các quan điểm tâm lí học chịu ảnh hưởng sâu sắc của thuyết Sigmund Freud kết hợp với quan điểm sinh học về vấn đề giới tính. Freud cho rằng, bất kì dạng tình dục bất thuờng nào cũng đều là sự định hình những giai đoạn phát triển nhất định của tâm lí tính dục của con người. Tuy nhiên ông quá đề cao yếu tố sinh học; yếu tố tính dục trong đời sống con người. Giáo dục giới tính được nâng lên một tầm cao mới là quan tâm đến giáo dục giới tính cho con người và hơn hết khi đó được coi là một nội dung quan trọng cần giáo dục cho học sinh.
Vấn đề được đưa ra bởi nhiều nhà lãnh đạo hoạt động xã hội, 9 hoạt động chính trị nổi tiếng của Liên Xô (V. Lê nin, Marxim Gorki, Maiacovxki, Secnưsevxki; đặc biệt là A. Trong các bài giảng về giới tính, A. Makarenko cho rằng: “Chúng ta phải giáo dục con em chúng ta làm sao để các em có thái độ đối với tình yêu như đối với một tình cảm nghiêm túc và sâu nặng, để các em sẽ được hưởng khoái cảm của mình, tình yêu của mình, hạnh phúc của mình trong khuôn khổ gia đình”.21] Vào những năm 60 ở nước Anh lần đầu tiên khái niệm về giới được xuất hiện.
Chính sự ra đời của khái niệm này, đã làm rõ được sự khác biệt của nam và nữ ở cả khía cạnh sinh học lẫn khía cạnh xã hội. Đối với nước Anh, các chương trình về giáo dục giới tính là bắt buộc đối với học sinh. Họ cung cấp các kiến thức chung về giới tính như tại các nước châu Âu khác nhưng lại tập trung vào khía cạnh làm thế nào để có quan hệ tình dục an toàn. Tỷ lệ trẻ em mang thai ở Anh cao nhất châu Âu và cũng là đề tài gây đau đầu các nhà quản lí và hệ thống truyền thông nhất.
Nghiên cứu năm 2000 của trường đại học Brighton cho thấy, phần lớn học sinh từ 14 - 15 tuổi cảm thấy chán nản với các bài học giới tính trên lớp, thất vọng với những câu hỏi của thầy cô về chủ đề này. Ở Đức vào những năm 70 những vấn đề liên quan đến giáo dục giới tính được phổ biến một cách rộng rãi. Chương trình giáo dục giới tính được áp dụng ngay trong trường học đi từ các vấn đề liên quan đến tuổi dậy thì, cho đến sự thay đổi về mặt tâm sinh lý của lứa tuổi bị thành niên, những hoạt động về tình dục an toàn như phòng tránh thai, phòng tránh bệnh lây nhiễm qua đường tình dục và thế nào là hiện tượng lạm dụng tình dục. Truyền thông được xem là một phương tiện hỗ trợ đắc lực trong việc giáo dục giới tính, tình yêu, tình bạn cho các em học sinh.
Tại Mỹ, Virginia Johnson - nhà tâm lý và tình dục học người Mỹ đầu tiên đã dám mạnh dạn đứa ra nghiên cứu về tình dục ở con người. Giúp công chúng phá vỡ những bức tường cấm kỵ và thiếu hiểu biết khi đề cập đến các vấn đề xung quanh hành vi tình dục của con người. Vấn đề lớn ở Mỹ chính là hầu hết học sinh đều được tiếp xúc với giáo dục giới tính, nhưng tỷ lệ nhiễm bệnh về tình dục ở trẻ vị thành niên được xem là một hiện tượng đáng báo động. 10 Ở Philippines, giáo dục giới tính đã được đưa vào chương trình nội khoá của trường phổ thông cơ sở và trường trung học phổ thông, và là một bộ phận của giáo dục dân số và kế hoạch hoá gia đình.
Nội dung này cũng đã được mở rộng ra ngoài nhà trường, đến các tầng lớp nhân dân khác nhau qua rất nhiều hình thức giáo dục phong phú, qua các trung tâm tư vấn và đã được xã hội ủng hộ. Ở Ai Cập, các giáo viên giảng dạy cho học sinh (từ 12 - 14 tuổi) những kiến thức giải phẫu sinh học như cấu tạo cơ quan sinh dục nam nữ, cơ chế hoạt động, quan hệ tình dục, nguyên nhân có thai, các bệnh truyền nhiễm qua đường tình dục. Đồng thời, Bộ trưởng Y tế và Giáo dục của nước này đã làm việc cùng với những người đứng đầu của tổ chức UNICEFF (Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc) tìm cách đưa giáo dục giới tính về những miền quê xa xôi nhằm ngăn chặn hủ tục lạc hậu và nguy hiểm là cắt bỏ âm vật của các bé gái. Tại các nước châu Á đang có sự tiến bộ rõ rệt như Indonesia, Mông Cổ, Hàn Quốc và Sirilanka là những nước đã thực hiện chính sách riêng về giáo dục giới tính trong trường học.
Ấn Độ thì có chương trình đặc biệt dành riêng cho học sinh từ 9 - 16 tuổi, các chủ đề giới tính được giáo viên và học sinh đưa ra để trao đổi với nhau. Năm 1921 Thụy Điển đã nghiên cứu về vấn đề giáo dục giới tính và từ đó xem tình dục là quyền tự do của con người, là quyền bình đẳng nam nữ, là trách nhiệm đạo đức của công dân với xã hội. Năm 1942, Bộ giáo dục Thụy Điển quyết định đưa thí điểm giáo dục tình dục vào nhà trường và đến năm 1956 thì dạy phổ cập trong tất cả các loại trường từ tiểu học đến trung học. Năm 1973, Tại Pháp đã có các chương trình giáo dục giới tính trong nhà trường.
Có khoảng 30 - 40 giờ học giới tính dành cho học sinh lớp 8 và lớp 9, cuối khóa học các em được làm quen và học cách sử dụng bao cao su. Tháng 2/2000, Chính phủ Pháp quyết định đưa kiến thức giới tính lên đài truyền hình và sóng phát thanh, đồng thời phát khoảng 5 triệu tờ rơi cho học sinh phổ thông về các phương pháp tránh thai an toàn, hiệu quả. Năm 1974, Hội nghị Quốc tế về tính dục ở Giơnevơ đã thảo luận đến sự cần thiết phải đưa tình dục vào giảng dạy tại các cơ sở của ngành giáo dục và y tế. Năm 11 1983, hội nghị giáo dục giới tính ở Thụy Điển được thành lập.
Trong những năm 1984 – 1986, Hội nghị UNESCO đã làm sáng tỏ yêu cầu về giáo dục đời sống gia đình và giáo dục giới tính trong quá trình giáo dục ở các nước Châu Á Thái Bình Dương. Đồng thời, đã biên soạn nội dung chương trình và tài liệu giảng dạy về giáo dục đời sống gia đình cho gia đình thực nghiệm (1988 – 1991). Tùy theo phong tục tập quán và sự định hướng giá trị mà mỗi quốc gia áp dụng khác nhau chương trình thực nghiệm này, tuy nhiên muc tiêu chung vẫn là hướng đến vấn đề giáo dục giới tính cho thế hệ trẻ. Năm 1986, Hội nghị tư vấn của UNESCO về giáo dục dân số khu vực Châu Á – Thái Bình Dương đưa thêm 4 chủ điểm trong đó có giáo dục giới tính.
Nhìn chung, dù cho có sự khác nhau trong cách tiếp cận hay hướng phát triển, nhưng hầu hết các nước trên thế giới nhận thức được tầm quan trọng của giáo dục giới tính. Lược sử nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam, ở những thập kỉ trước đây giáo dục giới tính còn là một vấn đề hết sức xa lạ, còn có rất nhiều hạn chế. Ảnh hưởng bởi phong tục tập quán, người ta cho rằng giới tính là những chuyện khó nói và được xem như điều “cấm kỵ”. Nên những nhà nghiên cứu ở thời điểm đó có xu hướng né tránh vấn đề.
Khoảng vài chục năm gần đây, giáo dục giới tính là vấn đề đang được tập trung nghiên cứu ở nước ta và thu hút được sự quan tâm của xã hội. Các nội dung giáo dục giới tính được đề cập và phổ biến dưới nhiều hình thức khác nhau ở những năm 80 của thế kỉ XX như: báo cáo khoa học, chuyên đề, nội dung sinh hoạt ở các câu lạc bộ mà trong những người tham dự có khá đông các em học sinh…dù rằng chưa chính thức và sâu sắc nhưng vấn đề giáo dục giới tính bắt đầu là điểm nóng của nhiều ngành khoa học, nhiều nhà khoa học. Trong chỉ thị số 176A ngày 24/12/1974 do Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng kí đã nêu rõ: “Bộ giáo dục, Bộ đại học và Trung học chuyên nghiệp, Tổng cục dạy nghề phối hợp với các tổ chức có liên quan xây dựng chương trình chính khóa và ngoại khóa nhằm bồi dưỡng cho học sinh những kiến thức về khoa học giới tính, về hôn nhân gia đình và 12 nuôi dạy con cái”. Bộ giáo dục đã đưa ra chỉ thị về việc giáo dục dân số và giáo dục giới tính trong toàn bộ hệ thống trường học các cấp và các ngành học của cả nước.
Từ năm 1985, những công trình nghiên cứu của các tác giả về giới tính, về tình yêu, hôn nhân gia đình đã bắt đầu được công bố. Các tác giả Đặng Xuân Hoài, Trần Trọng Thủy, Phạm Hoàng Gia, Nguyễn Thị Đoan, Nguyễn Thị Nho, Bùi Ngọc Oánh,. đã nghiên cứu nhiều vấn đề, nhiều khía cạnh chi tiết của giới tính, tình yêu, hôn nhân gia đình đã được tiến hành từ năm 1985 đến nay, bước đầu làm cơ sở cho việc giáo dục giới tính cho thanh niên và học sinh.