Nhận Thức Của Giáo Viên Tiểu Học Về Chiến Lược Quản Lý Hành Vi Đối Với Trẻ Tăng Động Giảm Chú Ý

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu vnu ued nhận thức của giáo viên tiểu học về chiến lược quản lý hành vi đối với trẻ có dấu hiệu tăng, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất

Chuyên ngành

Tâm lý học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2012

123
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Mục đích nghiên cứu

0.3. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

0.4. Giả thuyết khoa học

0.5. Nhiệm vụ nghiên cứu

0.6. Phương pháp nghiên cứu

0.7. Đóng góp mới của luận văn

0.8. Cấu trúc luận văn

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Một số khái niệm cơ bản

1.1.1. Chú ý và giảm chú ý

1.1.2. Vận động, tăng động và xung động

1.1.3. Rối loạn/rối nhiễu

1.2. Rối loạn tăng động giảm chú ý

1.2.1. Nhận thức của giáo viên tiểu học

1.2.2. Chiến lược quản lý hành vi đối với trẻ tăng động giảm chú ý

1.2.3. Lịch sử nghiên cứu về can thiệp cho trẻ có rối loạn tăng động giảm chú ý trong môi trường học đường

1.2.4. Những yếu tố của trường học ảnh hưởng đến sự phát triển rối loạn tăng động giảm chú ý

1.2.5. Các chương trình can thiệp cho trẻ tăng động giảm chú ý trong trường học trên thế giới

1.2.6. Nhận thức của giáo viên về rối loạn tăng động giảm chú ý

1.2.7. Vai trò của giáo viên trong việc hỗ trợ học sinh tăng động giảm chú ý

2. CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Xác định biến nghiên cứu

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.3. Tiến độ thực hiện đề tài

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Nhận thức chung về rối loạn tăng động giảm chú ý

3.2. Đánh giá thức trạng rối loạn tăng động giảm chú ý trong trường học hiện nay

3.3. Nhận thức chung về các rối loạn tăng động giảm chú ý

3.4. Nhận thức về nguyên nhân gây rối loạn tăng động giảm chú ý

3.5. Nhận thức về ảnh hưởng của rối loạn tăng động giảm chú ý

3.6. Nhận thức của giáo viên tiểu học về các biểu hiện rối loạn tăng động giảm chú ý

3.7. Nhận thức về triệu chứng của giảm chú ý

3.8. Nhận thức về triệu chứng của tăng động

3.9. Nhận thức về triệu chứng của xung động

3.10. Nhận thức về các chiến lược quản lý hành vi đối với trẻ có dấu hiệu tăng động giảm chú ý

3.11. Nhận thức chung về các cách thức hỗ trợ trẻ có dấu hiệu tăng động giảm chú ý

3.12. Thiết lập quy tắc trong lớp học

3.13. Sử dụng lời khen và hệ thống thưởng

3.14. Sử dụng hệ quả tiêu cực giảm thiểu hành vi

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

Tài liệu tham khảo

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Nhận Thức Của Giáo Viên Về Quản Lý Hành Vi Trẻ Tăng Động Giảm Chú Ý

Nhận thức của giáo viên về quản lý hành vi trẻ tăng động giảm chú ý (TĐGCY) là một vấn đề quan trọng trong giáo dục hiện nay. Tại Hà Nội, tình trạng trẻ em mắc rối loạn TĐGCY ngày càng gia tăng, ảnh hưởng đến quá trình học tập và phát triển của trẻ. Giáo viên đóng vai trò then chốt trong việc nhận diện và can thiệp kịp thời cho trẻ. Việc hiểu rõ về các chiến lược quản lý hành vi sẽ giúp giáo viên hỗ trợ học sinh tốt hơn.

1.1. Khái Niệm Về Rối Loạn Tăng Động Giảm Chú Ý

Rối loạn TĐGCY là một tình trạng phát triển thường gặp ở trẻ em, đặc trưng bởi sự hiếu động thái quá và giảm khả năng chú ý. Theo nghiên cứu, tỷ lệ trẻ mắc rối loạn này ở Việt Nam đang gia tăng, với nhiều trẻ gặp khó khăn trong việc học tập và giao tiếp xã hội.

1.2. Vai Trò Của Giáo Viên Trong Quản Lý Hành Vi

Giáo viên là người trực tiếp quan sát và đánh giá hành vi của trẻ trong môi trường học đường. Họ có thể phát hiện sớm các dấu hiệu của rối loạn TĐGCY và áp dụng các chiến lược quản lý hành vi phù hợp để hỗ trợ học sinh.

II. Thách Thức Trong Nhận Thức Của Giáo Viên Về Trẻ Tăng Động Giảm Chú Ý

Mặc dù giáo viên có vai trò quan trọng, nhưng nhiều người vẫn gặp khó khăn trong việc nhận thức và áp dụng các chiến lược quản lý hành vi cho trẻ TĐGCY. Thiếu kiến thức chuyên môn và kinh nghiệm là những thách thức lớn.

2.1. Thiếu Kiến Thức Về Rối Loạn Tăng Động

Nhiều giáo viên chưa được đào tạo bài bản về rối loạn TĐGCY, dẫn đến việc họ không nhận diện đúng các triệu chứng và không áp dụng hiệu quả các phương pháp can thiệp.

2.2. Áp Lực Từ Môi Trường Học Đường

Môi trường học đường có thể tạo ra áp lực cho giáo viên trong việc quản lý lớp học. Điều này có thể khiến họ không đủ thời gian và tâm trí để chú ý đến các học sinh có dấu hiệu TĐGCY.

III. Phương Pháp Quản Lý Hành Vi Hiệu Quả Cho Trẻ Tăng Động Giảm Chú Ý

Để quản lý hành vi của trẻ TĐGCY, giáo viên cần áp dụng các phương pháp can thiệp hiệu quả. Những phương pháp này không chỉ giúp cải thiện hành vi mà còn hỗ trợ sự phát triển toàn diện của trẻ.

3.1. Thiết Lập Quy Tắc Trong Lớp Học

Việc thiết lập quy tắc rõ ràng trong lớp học giúp trẻ hiểu được mong đợi và hành vi phù hợp. Điều này tạo ra một môi trường học tập tích cực và an toàn cho tất cả học sinh.

3.2. Sử Dụng Hệ Thống Thưởng Và Khen Ngợi

Hệ thống thưởng và khen ngợi có thể khuyến khích trẻ thực hiện hành vi tích cực. Giáo viên nên thường xuyên công nhận những nỗ lực của trẻ để tạo động lực cho các em.

3.3. Can Thiệp Tâm Lý Đối Với Trẻ Tăng Động

Can thiệp tâm lý là một phần quan trọng trong việc hỗ trợ trẻ TĐGCY. Các chương trình can thiệp hành vi có thể giúp trẻ cải thiện khả năng chú ý và giảm thiểu hành vi hiếu động.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Các Chiến Lược Quản Lý Hành Vi

Các chiến lược quản lý hành vi không chỉ có giá trị lý thuyết mà còn có thể được áp dụng thực tiễn trong lớp học. Việc áp dụng đúng cách sẽ mang lại hiệu quả cao trong việc hỗ trợ trẻ TĐGCY.

4.1. Kết Quả Nghiên Cứu Về Chiến Lược Quản Lý Hành Vi

Nghiên cứu cho thấy rằng việc áp dụng các chiến lược quản lý hành vi có thể cải thiện đáng kể tình trạng của trẻ TĐGCY. Giáo viên cần được đào tạo để áp dụng hiệu quả các phương pháp này.

4.2. Tác Động Đến Sự Phát Triển Của Trẻ

Các chiến lược quản lý hành vi không chỉ giúp trẻ cải thiện hành vi mà còn hỗ trợ sự phát triển xã hội và cảm xúc của trẻ. Điều này rất quan trọng cho sự hòa nhập của trẻ trong môi trường học đường.

V. Kết Luận Về Nhận Thức Của Giáo Viên Về Quản Lý Hành Vi Trẻ Tăng Động

Nhận thức của giáo viên về quản lý hành vi trẻ TĐGCY là yếu tố quyết định đến sự thành công trong việc hỗ trợ trẻ. Cần có sự đầu tư vào đào tạo và hỗ trợ giáo viên để nâng cao nhận thức và kỹ năng của họ.

5.1. Tương Lai Của Chiến Lược Quản Lý Hành Vi

Tương lai của các chiến lược quản lý hành vi sẽ phụ thuộc vào sự phát triển của giáo viên và các chương trình đào tạo. Cần có sự hợp tác giữa nhà trường và gia đình để đạt được hiệu quả tốt nhất.

5.2. Đề Xuất Các Giải Pháp Nâng Cao Nhận Thức

Cần triển khai các chương trình đào tạo cho giáo viên về rối loạn TĐGCY và các chiến lược quản lý hành vi. Điều này sẽ giúp giáo viên tự tin hơn trong việc hỗ trợ học sinh.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu ued nhận thức của giáo viên tiểu học về chiến lược quản lý hành vi đối với trẻ có dấu hiệu tăng động giảm chú ý trong một số trường tiểu học ở hà nội

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Chú ý và giảm chú ý Trong các tài liệu nước ngoài (tiếng Anh) về tâm lý lâm sàng hay sức khỏe tâm thần, đôi khi người ta sử dụng thuật ngữ “không chú ý” (inattention) thay cho thuật ngữ “giảm chú ý” (attention deficit) trong các nghiên cứu về TĐGCY. Hai thuật ngữ này đều chỉ tình trạng thiếu hụt, không đầy đủ về mặt chú ý so với người bình thường.

Vậy chú ý là gì? Chú ý là sự tập trung của ý thức vào một hay một nhóm sự vật hiện tượng để định hướng hoạt động bảo đảm điều kiện thần kinh – tâm lý cần thiết cho hoạt động tiến hành có hiệu quả. Chú ý được xem như một trạng thái tâm lý luôn đi kèm với các quá trình tâm lý khác, giúp cho các quá trình tâm lý đó phản ánh đối tượng một cách tốt nhất [23]. Căn cứ vào mức độ tự giác, chú ý được chia làm 2 loại: chú ý không chủ định và chú ý có chủ định. Chú ý không chủ định là loại chú ý không có mục đích tự giác (vô thức), phát sinh tự nhiên và không cần nỗ lực.

Loại chú này không bền vững do chịu ảnh hưởng của cường độ, tính bất ngờ, mới lạ, hấp dẫn các kích thích bên ngoài và đặc điểm nhu cầu, hứng thú, hiểu biết, kinh nghiệm, trạng thái của chủ thể. Cường độ, tính bất ngờ của kích thích càng lớn thì càng dễ phát sinh chú ý không chủ định. Đối với trẻ trước tuổi đến trường, chú ý không chủ định là chủ yếu. Chú ý chủ định là loại chú ý có mục đích, có ý thức, tự giác và đòi hỏi sự nỗ lực của chủ thể.

Chú ý có chủ định có thể duy trì trong thời gian tương đối dài, song lại gây căng thẳng, mệt mỏi cho chủ thể. Loại chú ý này có nguồn gốc xã hội, được hình thành trong quá trình xã hội hóa. Ở trẻ em, loại chú ý có chủ định chỉ được hình thành vào giai đoạn cuối tuổi mẫu giáo, tuy nhiên khả năng kiểm soát, điều khiển chú ý còn hạn chế [20],[4]. Khả năng chú ý của trẻ em phát triển theo độ tuổi, trẻ càng nhỏ chú ý không chủ định chiếm ưu thế.

Khả năng chú ý trung bình cho mỗi năm tuổi của trẻ em là 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com từ 3 đến 5 phút. Trẻ em ở độ tuổi đầu tiểu học (6-7 tuổi) chú ý chủ định đã hình thành nhưng kém, chưa thể tập trung lâu dài, dễ phân tán và di chuyển trong quá trình học tập. Các em có khả năng chú ý trong khoảng 15-20 phút. Trẻ ở độ tuổi cuối tuổi tiểu học (11-12 tuổi) đã hình thành kĩ năng tổ chức, điều chỉnh được chú ý của mình, chú ý có chủ định chiếm ưu thế với thời gian chú ý đạt khoảng 35-40 phút [55].

Như vậy, tình trạng thiếu hụt, không đầy đủ về mặt chú ý (attention deficit) được hiểu là tình trạng khó khăn về kiểm soát, duy trì chú ý vào một hoạt động nào đó trong thời gian dài. Vận động, tăng động và xung động 1. Vậ độ g (Motor) Vận động đề cập đến những cấu trúc và chức năng có liên hệ hoạt động của các cơ bắp, hoặc với đáp ứng của cơ thể với một tình huống. Do vậy, chúng ta có những từ như: trải nghiệm vận động (motor experience), thói quen vấn động (motor habit), học tập vận động (motor learning), thần kinh vận động (motor nerve), cơ quan vận động (motor organ), phản ứng vận động (motor reflex).

Paplop chỉ ra vận động có ý thức nói chung là các vận động đã được hướng tâm hóa. Trong bộ phận hướng tâm của vận động gồm nhiều dạng hướng tâm khác nhau và quan trọng nhất là hướng tâm về tư thế sẵn sàng hoạt động, cử động của các cơ quan vận động. Tă g độ g (Hyperactivity) Hyperactivity nguyên nghĩa tiếng Anh là sự hiếu động thái quá. Theo Corsini, đó là một tình trạng được mô tả bằng sự đáp ứng mạnh mẽ hoặc vận động bồn chồn một cách quá mức [20].

Trong từ điển Bách khoa Việt Nam, tăng động là sự tăng biên độ và tốc độ vận động, có khi là những vận động không chú tâm, không có ý nghĩa sinh lí [11]. Trong DSM-II, tăng động được mô tả là một rối loạn được đặc trưng bởi hoạt động quá mức, bồn chồn, dễ xao lãng (dễ chia tâm trí), và khả năng tập trung ngắn, đặc biệt ở trẻ nhỏ; hành vi này thường giảm ở độ tuổi vị thành niên/khi trưởng thành[50]. Trong các ấn bản DSM tiếp theo (DSM-III, DSM-III-R, DSM-IV), khái 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com niệm tăng động thường được đề cập gắn liền với thuật ngữ bốc đồng hay xung động. Xung động là đặc điểm của thần kinh hay hành vi của con người (dưới dạng ổn định - một nét tính cách), thể hiện ở khuynh hướng hành động theo những kích thích, thúc đẩy đầu tiên, chịu ảnh hưởng trực tiếp của hoàn cảnh bên ngoài hoặc xúc cảm.

Người có tính cách xung động không kịp suy nghĩ về hành vi của mình, thường thiếu cân nhắc "nên" hay "không"; họ phản ứng nhanh chóng và trực tiếp, và cũng thường nhanh chóng hối tiếc về các hành động của mình [11]. Như vậy, cá nhân có dấu hiệu tăng động hay xung động thường là những người thiếu khả năng tự kiểm soát hay thiếu kiên nhẫn, kiên trì trong thực hiện hoạt động. Đối với trẻ em, những dấu hiệu như hoạt động thái quá, thường xuyên di chuyển, khó trì hoãn được những khoái cảm cho thấy trẻ có rối loạn về tăng động. Rối loạn/ rối nhiễu Rối loạn hay rối nhiễu đều được dịch nguyên nghĩa từ tiếng Anh – disorder.

Trong các lĩnh vực liên quan đến sức khỏe (sức khỏe tâm thần, tâm lý lâm sàng, y học.), thuật ngữ rối loạn hay rối nhiễu (disorder) thường được sử dụng vì nó có tính trung lập và ít kỳ thị hơn nếu dùng thuật ngữ bệnh tật (disease) hoặc đau ốm (illness). Ở Việt Nam, thuật ngữ rối loạn thường được dùng thay thế bởi thuật ngữ rối nhiễu. Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện là người đầu tiên đưa ra thuật ngữ rối nhiễu tâm lý sử dụng thay cho thuật ngữ rối loạn tâm thần, bệnh tâm thần hay bệnh lý. Trong tác phẩm “Tâm lý lâm sàng trẻ em Việt Nam” bác sĩ Nguyễn Khắc Viện đã viết “chúng tôi chủ trương không dùng từ tâm thần nữa mà dùng từ tâm lý để nói chung, như khi nói khám tâm lý, không nói khám tâm thần; nếu ghép vào trong khuôn viên của một bệnh viện tâm thần, sẽ rất ít ai đến, và cũng không mấy bác sĩ, y tá, giáo viên, cán bộ xã hội chịu học tập chuyên khoa này” [24].

Các nhà chuyên môn (tâm lý học, tâm thần học, giáo dục học, công tác xã hội) sử dụng thuật ngữ rối nhiễu tâm lý 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trong giảng dạy, nghiên cứu, trị liệu tâm lý, công tác xã hội đối với những cá nhân và cộng đồng dễ bị tổn thương, khủng hoảng tâm lý tương đương với thuật ngữ rối loạn tâm thần. Rối loạn được hiểu là tình trạng xáo trộn/thiếu của hệ thống có trình tự hoặc có sự bất thường về chức năng liên quan đến thể chất hoặc tinh thần [53]. Theo Corsini rối loạn là một tình trạng, trạng thái cơ thể và/hoặc tâm lý trong đó một nhóm các hiện tượng bộc lộ mối quan hệ không dễ nhận thấy, không dễ suy luận với một hiện tượng khác [20]. Như vậy, rối loạn hay rối nhiễu được hiểu như tình trạng cá nhân có hành vi, cảm xúc kém thích nghi, gây đau khổ hoặc làm ảnh hưởng đến sức khoẻ, cuộc sống, mối quan hệ của bản thân và những người xung quanh.

Quan niệm này giúp giải thích vì sao đến tuổi đi học TĐGCY trở thành vấn đề đáng quan ngại cần hỗ trợ can thiệp kịp thời. Rối loạn tăng động giảm chú ý 1. K á ệm Khái niệm rối loạn TĐGCY chỉ mới xuất hiện vào năm 1987, nhưng những thuật ngữ liên quan đến hội chứng này thì xuất hiện trước đó khá lâu. Năm 1798, Alexander Crichton – một bác sĩ người Scốtlen đã có những miêu tả về “t t ầ bồ c ồ ” (mental restlessness) ở trẻ em [96].

Hơn 100 năm sau, George Frederick Still đã mô tả về 43 trẻ có vấn đề hành vi và sự chú ý: dễ nóng giận, hung hăng, xấc láo, không tuân theo kỷ luật,. Ông gọi đó là bệnh “k ếm k uyết tro g k ểm soát đ o đức” (defect in moral control) [45] Trong những năm 20 của thế kỷ XX, những nghiên cứu của Hohman, Strecker và Ebaugh ghi nhận những trẻ sau khi thoát khỏi bệnh viêm não có các biểu hiện hành vi bất thường như hiếu động, hay sao nhãng, dễ kích thích, chống đối xã hội, phá hoại, ngang bướng, không thể quản lý trong trường học, v. và đưa ra thuật ngữ “rố lo à v sau v êm ão” (post-encephalitic behavior disorder). Gần 2 thập kỷ sau, Strauss và Lehtinen tiếp tục chỉ ra những biểu hiện rối loạn hành vi ở những trẻ có tổn thương não trong quá trình người mẹ mang thai, sinh nở hoặc nhiễm trùng não và đưa ra thuật ngữ “tổ t ươ g ão trẻ em” (brain-injured child).

10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thuật ngữ này về sau được phát triển thành “tổ t ươ g ão tố t ểu” (MBD - Minimal Brain Damage) trong những năm 1950 và “rố lo c ức ă g ão tố t ểu” (Minimal Brain Dysfunction) vào những năm 1960 [45]. Trong nghiên cứu của mình năm 1960, Stella Chess đã đưa ra thuật ngữ “trẻ tă g độ g” (Hyperactive Child) để miêu tả những đứa trẻ hoạt động với cường độ cao hơn so với trẻ em bình thường. Năm 1968, trong Sổ tay Chẩn đoán và Thống kê các rối loạn tâm thần lần thứ 2 (Diagnostic and statistics manual of mental disorders, DSM-II) của Hội tâm thần học Mỹ (APA) đã đề cập đến rối loạn tăng động ở trẻ em thông qua thuật ngữ “p ả ứ g tă g độ g t ờ t ơ ấu” (Hyperkinetic reaction of childhood) với những biểu hiện như hiếu động thái quá, chú ý trong khoảng ngắn, dễ bị phân tán, có xu hướng gây hấn. [45, 48] Một thập kỷ sau, trong DSM-III thuật ngữ “rố lo suy g ảm c ú ý” (ADD – Attention Deficit Disorder) được sử dụng thay thế cho thuật ngữ p ả ứ g tă g độ g t ờ t ơ ấu, trong đó tập trung vào ba triệu chứng riêng biệt giảm chú ý, bốc đồng và tăng động.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nhận Thức Của Giáo Viên Về Quản Lý Hành Vi Trẻ Tăng Động Giảm Chú Ý Tại Hà Nội" cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách mà giáo viên nhận thức và quản lý hành vi của trẻ em mắc chứng tăng động giảm chú ý. Nghiên cứu này không chỉ nêu bật những thách thức mà giáo viên gặp phải trong việc hỗ trợ học sinh mà còn đề xuất các phương pháp hiệu quả để cải thiện tình hình. Độc giả sẽ tìm thấy những lợi ích thiết thực từ tài liệu này, bao gồm việc nâng cao nhận thức về hành vi của trẻ, cải thiện kỹ năng quản lý lớp học và phát triển các chiến lược can thiệp phù hợp.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến tâm lý học và hành vi của học sinh, bạn có thể tham khảo các tài liệu như Luận văn thạc sĩ một số yếu tố tâm lý ảnh hưởng đến hành vi bạo lực học đường của học sinh thpt, nơi khám phá các yếu tố tâm lý tác động đến hành vi bạo lực trong môi trường học đường. Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ tâm lý học lâm sàng can thiệp tâm lý cho một học sinh tiểu học có biểu hiện lo âu học đường sẽ cung cấp cái nhìn về cách can thiệp tâm lý cho học sinh tiểu học gặp khó khăn. Cuối cùng, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về Luận văn nhận thức của giáo viên tiểu học về sức khỏe tâm thần học sinh, tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về sức khỏe tâm thần của học sinh và vai trò của giáo viên trong việc hỗ trợ. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề liên quan đến hành vi và tâm lý học sinh.