Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHẬN THỨC CỦA GIÁO VIÊN MẦM NON VỀ RỐI LOẠN PHỔ TỰ KỶ CỦA TRẺ 1. Lý luận về nhận thức, mức độ biểu hiện của nhận thức 1. Khái niệm nhận thức Từ xa xưa, các nhà khoa học đã có những quan tâm về những gì hoạt động bên trong tâm trí. Từ Cognition có từ thế kỷ thứ 15 xuất phát từ tiếng Latinh nghĩa là “kiểm tra”, “học tập”, hoặc “kiến thức”.
Gốc từ tiếng tiếng Hi Lạp, thuật ngữ này là một động từ với nghĩa là “tôi biết” , hoặc “nhận biết”[47]. René Descater ( 1596 – 1650), người đã dùng cụm từ “cogito, ergo sum”, có nghĩa là “tôi tư duy, nên tôi tồn tại”. Ông đã sử dụng một tiếp cận triết học để nghiên cứu về nhận thức và tâm trí, trở thành nền tảng cho nền triết học Tây phương, cũng như những học thuyết về tâm trí sau này[18]. Năm 1967, Ulric Neisser đưa ra thuật ngữ "tâm lý học nhận thức" vào sử dụng phổ biến.
Định nghĩa của Neisser về nhận thức“đề cập đến các quá trình mà cảm giác tiếp nhận được biến đổi, giảm thiểu, xây dựng, lưu trữ, phục hồi và sử dụng. Nó liên quan đến các quá trình này ngay cả khi chúng hoạt động trong điều kiện không có kích thích liên quan, như trong hình ảnh và ảo giác. Với một định nghĩa bao quát như vậy, rõ ràng nhận thức có liên quan đến mọi thứ mà một con người có thể làm; rằng mọi hiện tượng tâm lý đều là một hiện tượng nhận thức”[45][19]. Theo từ điển Oxford, Nhận thức (cognition) là “một hành động tinh thần hoặc các quá trình tiếp thu kiến thức và hiểu biết thông qua các suy nghĩ, kinh nghiệm và thông qua các giác quan.” Theo từ điển chuyên ngành của Hiệp hội tâm lý học Hoa kỳ (APA), nhận thức là “tất cả các hình thức hiểu biết và nhận thức, chẳng hạn như nhận thức cảm giác, ý tưởng, ghi nhớ, lý luận, phán đoán, tưởng tượng và giải quyết vấn đề”.
Trong “Từ điển Tâm lý học” của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện (1995) thì nhận thức “là một quá trình tiếp cận, đến gần đến chân lý, nhưng không bao giờ ngừng ở 13 một trình độ nào, vì không bao giờ nắm hết toàn bộ hiện thực, phải thải dần những cái sai, tức không ăn khớp với hiện thực, đi hết bước này sang bước khác”[10] Nguyễn Quang Uẩn (2000) mô tả:“Nhận thức là một quá trình tâm lý. Ở con người quá trình này thường gắn với mục đích nhất định nên nhận thức của con người là một hoạt động. Đặc trưng nổi bật nhất của hoạt động nhận thức là phản ánh hiện thực khách quan. Hoạt động này bao gồm nhiều quá trình khác nhau, thể hiện những mức độ phản ánh hiện thực khác nhau (cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng…) và mang lại những sản phẩm khác nhau về hiện thực khách quan (hình ảnh, hình tượng, biểu tượng, khái niệm.
Trong “Từ điển Thuật ngữ tâm lý học” (2012) của tác giả Vũ Dũng, thì nhận thức được định nghĩa: “là toàn bộ những quy trình mà nhờ đó những đầu vào cảm xúc được chuyển hoá, được mã hoá, được lưu giữ và sử dụng. Hiểu nhận thức là một quy trình, nghĩa là nhờ có quy trình đó mà cảm xúc của con người không mất đi, nó được chuyển hoá vào đầu óc con người, được con người lưu giữ và mã hoá”. Như vậy, theo tôi, nhận thức là một quá trình tâm lý cơ bản trong các đặc điểm tâm lý người. Quá trình này đặc trưng bởi (1) cơ sở sinh lý đó là sự phản ánh hiện thực khách quan từ bên ngoài vào trong não bộ; từ đó (2) nảy sinh những sản phẩm của nhận thức như suy nghĩ, thái độ, cảm xúc, và hành vi.
Nhận thức còn mang bản chất xã hội trong khi phản ánh hiện thực khách quan chịu ảnh hưởng từ kinh nghiệm, quan niệm xã hội. Nhận thức sau khi được phản ánh từ hiện thực khách quan có khả năng tự phản ánh chính nó. Bản chất của nhận thức Một số lý luận về bản chất của nhận thức [9]: Nhận thức là một trong các mặt cơ bản của tâm lý học. Các mặt đó bao gồm nhận thức, cảm xúc, và hành vi.
Nhận thức là một quá trình đặc trưng phản ánh hiện thực khách quan thông qua các giác quan. Hai thành phần cơ bản là nhận thức cảm tính (cảm giác, tri giác) và nhận thức lý tính (tư duy và tưởng tượng). Nhận thức cảm tính là chỉ phản ánh những thuộc tính bề ngoài, cụ thể của sự vật đang trực tiếp tác động vào các giác quan. Nhận 14 thức cảm tính là cầu nối quan trọng giữa tâm lý con người và môi trường, là nền tảng của các hoạt động tâm lý, từ đó tâm lý con người mới có tính định hướng cũng như điều chỉnh hoạt động của chính mình.
Nhận thức lý tính là giai đoạn cao hơn, phản ánh những thuộc tính bên trong, những tính chất cốt lõi. Nhận thức lý tính có vai trò làm rõ bản chất những mối liên hệ của sự vật hiện tượng. Nhận thức lý tính là điều kiện để con người làm chủ tự nhiên, xã hội và chính bản thân mình. Những hình ảnh tâm lý được phản ánh trong nhận thức mang tính sinh động và sáng tạo của tính chủ thể.
Tính chủ thể sáng tạo và sinh động thể hiện ở chổ khi phản ánh nhận thức còn đưa vào hiểu biết, kinh nghiệm, nhu cầu, xu hướng, tính khí, năng lực. Nhận thức mang bản chất xã hội, lịch sử. Trong tiến trình lịch sử của nhân loại, các thế hệ trước đã tích lũy một hệ thống kinh nghiệm, từ đó kinh nghiệm được áp dụng vào hoạt động nhận thức ở thời điểm hiện tại. Bên cạnh đó, ngôn ngữ trong hoạt động thường ngày tạo điều kiện lưu thông và giữ gìn các kết quả nhận thức và tư duy của các thế hệ trước, cũng như ngôn ngữ làm phong phú hơn kết quả sản phẩm của hoạt động nhận thức.
Hơn nữa, nhận thức mang bản chất lịch sử trong việc nhiệm vụ của nhận thức trong từng giai đoạn phải giải quyết những vấn đề của lịch sử xã hội ở mỗi thời kỳ. Các mức độ nhận thức Sơ đồ 1. Các mức độ nhận thức theo phân loại của Miller (2008) George A. Miller (1920-2012) được coi là một trong những người sáng lập tâm lý học nhận thức.
Công trình được nhắc đến nhiều nhất của ông là kim tự tháp 15 nhận thức (1990)[51]. Trong sơ đồ mô hình nhận thức có thể thấy được các mức độ cơ bản của nhận thức như sau: - Mức 1: Biết. Là cấp độ nền tảng để xây dựng năng lực nhận thức. - Mức 2: Biết cách.
Là biết cách sử dụng nhận thức trong việc thu thập, phân tích và giải thích thông tin, phát triển kế hoạch. - Mức 3: Biết chỉ dẫn. Người nhận thức thể hiện sự tổng hòa các kiến thức và kỹ năng của mình để thực hiện thành thạo trên thực tế. - Mức 4: Thực hành.
Kim tự tháp còn có chiều cạnh thứ ba trong phân loại mức độ để đánh giá mức độ nhận thức : đó là thái độ, kiến thức và kỹ năng. Còn theo tác giả Benjamin Bloom - nhà tâm lý học giáo dục người Mỹ (1956) và bản chỉnh sửa của Anderson và Krathwohl (2001) thì nhận thức có 6 cấp độ[13]: - Mức 1: Nhớ. Khả năng nhận biết, hồi tưởng những thông tin được lưu trong trí nhớ, gọi tên lại những kiến thức đã từng được học. Khả năng hiểu được ý nghĩa, diễn giải, phân loại, tóm tắt, so sánh, giải thích, kết luận, chứng minh được vấn đề.
- Mức 3: Vận dụng. khả năng áp dụng những kiến thức học được vào tình huống như làm mẫu, thuyết trình, phỏng vấn, bắt chước. - Mức 4: Phân tích. Khả năng chia nhỏ kiến thức để tư duy, trong mức này người học tư duy các thành phần của nhận thức và tư duy liên hệ với tổng thể.
Người học có thể minh họa nhận thức bằng sự khác nhau, tổ chức và tổng hợp chúng. - Mức 5: Đánh giá. Đây là mức cao nhất trong bảng phân loại năm 1956. Ở mức này, người học sẽ đưa ra nhận xét, kiến nghị, báo cáo.
- Mức 6: Sáng tạo. Là mức cao và khó nhất. Kỹ năng này liên quan đến việc tạo ra cái mới. Trong mức này, con người sẽ đặt thành phần của nhận thức thành một tổng thể, tái cấu trúc theo mô hình mới.
Người học lúc này sẽ nghĩ ra cái mới, lập kế hoạch và thực hiện. Như vậy, nếu theo tác giả Miller, thì mô hình nhận thức thì nhận thức bao gồm các khía cạnh kiến thức, thái độ và kỹ năng. Nhận thức cũng đi từ thấp đến cao bao gồm 4 cấp độ: biết, biết cách, có thể chỉ dẫn lại và thực hành. Còn với mô hình của 16 Bloom và bổ sung của Anderson và Krathwohl lại có một mô hình phân tích chi tiết chiều sâu của nhận thức theo 6 cấp độ.
Khi phân tích các mức độ nhận thức, có thể phân tích theo phương diện chiều sâu (Mô hình của Bloom) và kết hợp với phương diện chiều rộng (mô hình của Miller). Trong giới hạn của nghiên cứu này, tôi chọn mô hình nhận thức của tác giả G. Miller để phân tích mức độ nhận thức của giáo viên mầm non về rối loạn phổ tự kỷ. Lý luận về giáo viên mầm non 1.
Khái niệm giáo viên mầm non Nghề giáo viên được hiểu là: (1) là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, cơ sở giáo dục; (2) phải có những tiêu chuẩn như phẩm chất đạo đức, trình độ, có sức khỏe, lý lịch rõ ràng, (3) giảng dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp gọi là giáo viên (Luật giáo dục năm 2009) Theo tác giả Hồ Lam Hồng, giáo viên là “nhà chuyên nghiệp trong dạy học và giáo dục, nghĩa là người đó có khả năng sử dụng kiến thức chuyên môn nghiệp vụ vững vàng và kinh nghiệm thực tế phong phú để có thể đưa ra những cách thức xử lí tin cậy và phù hợp với những tình huống cụ thể khác nhau (về người học, về bối cảnh/hoàn cảnh) vì lợi ích của người học và đạo đức nghề nghiệp. Nghề GVMN là một lĩnh vực hoạt động lao động giáo dục trẻ em dưới 6 tuổi. Nhờ được đào tạo, GVMN có được những tri thức về sự phát triển thể chất, tâm sinh lí trẻ em; về phương pháp nuôi dưỡng chăm sóc và giáo dục trẻ em; về những kĩ năng nhất định để thực hiện nhiệm vụ chăm sóc, giáo dục trẻ em dưới 6 tuổi, đáp ứng nhu cầu xã hội về phát triển con người mới trong xu hướng hội nhập và toàn cầu hóa”[4].