Chương 1 NHẬN THỨC CỦA ĐẢNG VỀ HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI KINH TẾ TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 1995 1.1Nhận thức của Đảng về hoạt động đối ngoại kinh tế trước năm 1986 1.1 Nhận thức về xu thế chung của thế giới Nhận thức, đánh giá về thế giới luôn luôn là một trong những căn cứ để Đảng cầm quyền và chính phủ của mỗi quốc gia vạch ra đường lối phát triển đất nước trong từng thời kỳ, lịch sử. Căn cứ càng xác thực bao nhiêu thì nội dung và phương hướng của đường lối sẽ càng đúng đắn, phù hợp bấy nhiêu; ngược lại, căn cứ phiến diện, cực đoan có thể gây ra hậu quả khôn lường khi bước vào thực tiễn. Bởi vậy, nhận thức, đánh giá đúng đắn, kịp thời về tình hình thế giới trở thành yêu cầu hàng đầu đối với các thiết chế lãnh đạo, cầm quyền. Vì lẽ đó, trong mỗi văn kiện Đại hội Đảng luôn chú trọng tới tình hình chung của thế giới để đưa ra đường lối phù hợp.
Thông qua một số văn bản (Nghị quyết số 13/NQ-TW của Bộ Chính trị ban hành ngày 20/8/1988, Nghị quyết 13-tháng 3/1990.) quan điểm của Đảng về tình hình thế giớigiai đoạn trước năm 1986 có thể tóm lại ở mấy điểm sau: Từ đầu thập kỷ 70-80 của thế kỷ XX, xu thế liên kết, hợp tác giữa các quốc gia hoặc thành lập các tổ chức khu vực đã manh nha xuất hiện và có xu hướng ngày càng phát triển thể hiện ở sự ra đời của các tổ chức quốc tế mang tính khu vực không chỉ trong lĩnh vực thương mại mà còn trong chính trị, pháp lý, tiền tệ như: IMF, UN, EU.Sự tăng nhanh số lượng 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thành viên của Liên hợp quốc từ 51 thành viên năm 1945 đến năm 1960 là 100 thành viên đã góp phần minh chứng cho triển vọng phát triển của các tổ chức hợp tác này. Tuy nhiên trong bối cảnh chiến tranh lạnh, thế giới chia làm hai cực: xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa, đứng đầu mỗi cực là Liên Xô và Mỹ. Để củng cố sức mạnh của mình, cả hai cường quốc ra sức thành lập các tổ chức quân sự, kinh tế nhằm phô trương tầm ảnh hưởng và lôi kéo các nước khác vào phạm vi ảnh hưởng của mình nên xuất hiện nhiều tổ chức, liên minh mang tính cục bộ như NATO, SEV.Sự khác biệt về ý thức hệ đã làm xuất hiện cuộc chạy đua vũ trang,quân sự gay gắt giữa hai cực Liên Xô- Mỹ, dẫn tới cuộc đối đầu Đông- Tây. Một số nơi trở thành bàn cờ tranh giành tầm ảnh hưởng hoặc chứng tỏ khả năng quân sự to lớn của 2 cường quốc Liên Xô- Mỹ như Đông Dương, Triều Tiên.
Từ thập kỷ 70, thế kỷ XX, sự tiến bộ nhanh chóng của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đã thúc đẩy lực lượng sản xuất thế giới phát triển mạnh; Nhật Bản và Tây Âu vươn lên trở thành hai trung tâm lớn của kinh tế thế giới; xu thế chạy đua phát triển kinh tế đã dẫn đến cục diện hoà hoãn giữa các nước lớn. Năm 1975, với thắng lợi của cách mạng Việt Nam và các nước Đông Dương, hệ thống xã hội chủ nghĩa đã mở rộng phạm vi, phong trào cách mạng thế giới phát triển mạnh. Đảng ta nhận định: Hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa đã và đang lớn mạnh không ngừng; phong trào độc lập dân tộc và phong trào cách mạng của giai cấp công nhân đang trên đà phát triển mãnh liệt. Tuy nhiên, từ giữa thập kỷ 70 của thế kỷ XX, tình hình kinh tế – xã hội ở các nước xã hội chủ nghĩa xuất hiện sự trì trệ và mất ổn định.2 Nhận thức về các nước ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) được thành lập ngày 8/8/1967 sau khi Bộ trưởng Bộ ngoại giao các nước Indonesia, Malaysia, 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Philippines, Singapore và Thailand ký bản tuyên bố ASEAN (còn gọi là Tuyên bố Bangkok).Từ 5 thành viên ban đầu số lượng thành viên tham gia tổ chức này dần gia tăng cho tới khi ASEAN trở thành một tổ chức có sự tham gia đầy đủ của các thành viên thì ASEAN mới thực sự là một liên kết khu vực hoàn chỉnh.
Nếu hiểu theo nghĩa liên kết khu vực “là một trong nhiều hình thức liên kết, liên minh, tập hợp lực lượng đã và đang tồn tại trong lịch sử nhân loại. Đây là kiểu liên kết đa phương giữa các nước, nhóm nước, dựa trên cơ sở gần gũi về mặt địa lý và thường được bắt đầu từ lĩnh vực kinh tế”[95]thì Việt Nam có một sự đóng góp vai trò không nhỏ khi tích cực ủng hộ việc kết nạp Lào, Campuchia vào tổ chức này. Theo khái niệm này, các quốc gia có vị trí địa lý gần gũi nhau, tuy khác nhau về thể chế chính trị, về trình độ phát triển kinh tế, về văn hóa, tôn giáo,… song đều có một nhu cầu chung là hợp tác để tăng cường thế và lực của quốc gia trên trường quốc tế, thì có thể liên kết với nhau tạo nên một thực thể kinh tế - chính trị - xã hội mới. Và cho đến nay sự phát triển các mô hình liên kết ở phạm vì không gian khu vực đang thể hiện đó là một quy mô thích hợp đối với việc điều tiết nền kinh tế thế giới.
Trong suốt hơn 2 thập kỷ đầu tồn tại, ASEAN chủ yếu là một cơ chế hợp tác khu vực về chính trị-ngoại giao nhằm đối phó với những thách thức đối với an ninh quốc gia của các thành viên. Một số học giả nhìn nhận ASEAN như là một định chế/chế độ quốc tế (international regime) về chính trị-an ninh ở khu vực Đông Nam Á[86]. Nói một cách khác, đây là dạng thức ban đầu của hội nhập chính trị-an ninh. Sau giai đoạn khởi đầu chủ yếu bằng hội nhập sơ khai về chính trị-an ninh, từ cuối thập niên 1970 trở đi, ASEAN mới bắt đầu triển khai hợp tác về kinh tế và chỉ từ gần giữa thập niên 1990, ASEAN mới thực sự bắt đầu tiến trình hội nhập kinh tế.
20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Hội nhập văn hóa-xã hội phải đợi đến khi ASEAN thông qua Hiến chương năm 2008 mới được triển khai. Từ khi thành lập năm 1967 ASEAN đã đặt mục tiêu “thúc đẩy tăng trưởng kinh tế” là ưu tiên hợp tác, Tuyên bố Bangkok nêu mục đích các quốc gia thành viên “sẽ thông qua các nỗ lực chung, tích cực hợp tác và hỗ trợ lẫn nhau nhằm đạt được các mục tiêu thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và phát triển văn hóa…”.Sau năm 1975, Mỹ rút quân khỏi Đông Nam Á, tình hình khu vực Đông Nam Á cũng có những chuyển biến mới, khối quân sự SEATO tan rã; tháng 2-1976, các nước ASEAN ký hiệp ước thân thiện và hợp tác ở Đông Nam Á (Hiệp ước Bali), mở ra cục diện hoà bình, hợp tác trong khu vực. Tuy ra đời từ năm 1967, nhưng hợp tác kinh tế của Hiệp hội chỉ thực sự được khởi động từ khi ASEAN tổ chức Hội nghị Bộ trưởng Kinh tế ASEAN lần thứ nhất (tháng 11/1975) chuẩn bị cho Hội nghị Cấp cao ASEAN đầu tiên tháng 2/1976. Tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ nhất (Ba-li, In-đô-nê-xia, ngày 23-24/2/1976), các nhà lãnh đạo ASEAN đã ký Tuyên bố Hòa hợp ASEAN I (còn gọi là Tuyên bố Ba-li I) qua đó lần đầu tiên đề cập cụ thể đến các mục tiêu chung của hợp tác kinh tế ASEAN, nêu rằng sẽ “phối hợp một cách có hiệu quả hơn để tăng cường hợp tác trong nông nghiệp và công nghiệp; mở rộng thương mại, kể cả các vấn đề về thương mại hàng hóa quốc tế; cải thiện giao thông vận tại và bưu điện-viễn thông và nâng cao đời sống nhân dân[100]”.
ASEAN là một tổ chức được thành lập vì mục tiêu chính trị nhưng lại hoạt động hiệu quả trong lĩnh vực kinh tế và được thế giới công nhận như một tổ chức khu vực hoạt động hiệu quả trong nội khối cũng như việc mở rộng quan hệ với đối tác bên ngoài. 21 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Sau cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, mối quan hệ giữa Việt Nam với các nước ASEAN vẫn có nhiều điểm bất đồng. Trong văn kiện Đại hội Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ IV nêu rõ chỉ đạo của Đảng: “Kiên quyết cùng các nước anh em và nhân dân tiến bộ trên thế giới tiếp tục chung sức đấu tranh chống chính sách xâm lược và gây chiến của bọn đế quốc đứng đầu là đế quốc Mỹ, góp phần tích cực vào sự nghiệp gìn giữ và củng cố hòa bình trên thế giới.chống mọi khuynh hướng cơ hội chủ nghĩa và mọi biểu hiện của chủ nghĩa dân tộc tư sản và tiểu tư sản, giữ vững độc lập, tự chủ, ra sức làm tròn nhiệm vụ đối với dân tộc và làm tốt nghĩa vụ quốc tế đối với nhân dân các nước. Quan điểm trên của Đảng cho thấy rõ sự ảnh hưởng của ý thức hệ nặng nề, dù chiến tranh đã kết thúc nhưng trong suốt thời gian này, Đảng ta chủ trương “Đoàn kết và hợp tác toàn diện với Liên Xô luôn luôn là hòn đá tảng của chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta”[10,114] còn Mỹ là kẻ thù,những đối tượng thân Mỹ có nền kinh tế tư bản, hoặc tồn tại yếu tố tư sản thì không hợp tác.
Chính điều này, đã trở thành lực cản trong con đường hội nhập giữa Việt Nam và các nước trong khu vực ASEAN. Giống như lời nhận xét của cựu đại sứ Việt Nam tại Indonesia, ông Trình Xuân Lãng đã viết: “Đại thắng mùa xuân 1975 chấm dứt chiến tranh, đem lại hòa bình độc lập hoàn toàn và thống nhất toàn vẹn cho nhân dân ta. Nó đem lại những thay đổi căn bản trong tình hình Đông Nam Á. Và lợi ích của các nước trong khu vực và của nhiều nước có liên quan cũng thay đổi.
Nguyện vọng chung của các nước trong khu vực là muốn hòa bình, ổn định để phát triển. Các nước ASEAN trước đây đã dính líu vào các cuộc chiến tranh của Mỹ nên sau khi ta chiến thắng rất muốn có quan hệ tốt với ta; họ sợ bị ta trừng phạt và trả thù.Mặt khác, cho đến nhiều năm sau chiến tranh ta vẫn nhìn tình hình khu vực theo cách nhìn cũ. Đó là, ta vẫn coi Mỹ là kẻ 22 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thù trực tiếp và nguy hiểm đang lăm le thi hành kế hoạch hậu chiến chống ta và không quan tâm đến việc bình thường hóa quan hệ với Mỹ.