Chương 1: Cơ sở lý luận chung của đề tài - Chương 2: Hiện trạng của việc thực hiện chính sách tài chính đối ứng 50/50 giữa tỉnh và huyện trong nghiên cứu khoa học trên địa bàn tỉnh Đồng Nai. - Chương 3: Các yếu tố cản trở của việc thực hiện chính sách tài chính đối ứng 50/50 giữa tỉnh và huyện trong nghiên cứu khoa học trên địa bàn tỉnh Đồng Nai. Phần kết luận và khuyến nghị 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.
Những khái niệm cơ bản: 1. Chính sách: Mọi tổ chức đều phải đề ra chính sách cho riêng mình và sử dụng chúng nhằm tác động vào đối tượng nào đó để đạt được một mục tiêu do tổ chức mình đang hướng tới. Khi nói về chính sách, người quản lý có thể hiểu theo những khía cạnh khác nhau: “Chính sách là một tập hợp các biện pháp. Đó có thể là một biện pháp kích thích kinh tế, biện pháp động viên tinh thần, một biện pháp mệnh lệnh hành chính hoặc một biện pháp ưu đãi đối với các cá nhân hoặc các nhóm xã hội.
Chính sách là một tập hợp các biện pháp được thể chế hoá dưới dạng các đạo luật, pháp lệnh, sắc lệnh; các văn bản dưới luật như nghị định, thông tư, chỉ thị của Chính phủ; hoặc các văn bản quy định nội bộ của các tổ chức (viện, trung tâm nghiên cứu, trường đại học…). Nói cách khác, vật mang chính sách chính là văn bản quy phạm pháp luật”1 [9, tr.12-13] Và tùy theo cách tiếp cận chúng ta cũng có những khái niệm chính sách khác nhau: “Từ tiếp cận xã hội học, chính sách là tập hợp biện pháp do chủ thể quản lý đưa ra, nhằm tạo lợi thế cho một (hoặc một số) nhóm xã hội, giảm lợi thế của một (hoặc một số) mục tiêu xã hội mà chủ thể quyền lực đang hướng tới. Từ tiếp cận tâm lý học, chính sách là tập hợp biện pháp đối xử ưu đãi đối với một nhóm xã hội, nhằm kích thích vào động cơ hoạt động của nhóm này hướng theo việc thực hiện một (hoặc một số) mục tiêu của chủ thể quyền lực. Từ tiếp cận thiết chế xã hội, chính sách là một thiết chế xã hội.
Nó bao gồm những chuẩn mực và những giá trị được cấu trúc thành những khuôn mẫu tác phong, được xã hội thừa nhận dước dạng các điều khoản 1 Vũ Cao Đàm (2011), Phân tích và thiết kế chính sách cho phát triển, NXB Dân trí, Hà Nội, tr11-13, 33-34. 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com pháp luật, và đóng vai trò những công cụ nhằm thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của xã hội” [9, tr. Mỗi cách tiếp cận giúp người chuẩn bị quyết định chính sách một hướng tư duy. Từ thực tế chính sách của các ngành, các địa phương và các quốc gia, cũng như qua những cuộc thảo luận trên diễn đàn nghiên cứu chính sách, nhà quản lý có thể chọn ra một số cách tiếp cận quan trọng nhất để phân tích, để cuối củng đưa ra một định nghĩa khả dĩ phù hợp nhất.
Trong nghiên cứu này, chúng tôi đưa ra định nghĩa chính sách là một công cụ để quản lý được thể chế hoá dưới dạng văn bản quy phạm pháp luật do một chủ thể quản lý đưa ra nhằm tạo sự ưu đãi hoặc kìm hãm đối với các cá nhân hay các nhóm xã hội để biến đổi xã hội phù hợp với mục tiêu của chủ thể quản lý vạch ra. Chính sách tài chính: “Trong Kinh tế học vĩ mô, Chính sách tài chính (hay còn gọi là Chính sách tài khóa) là chính sách thông qua chế độ thuế và đầu tư công cộng để tác động tới nền kinh tế. Chính sách tài chính cùng với chính sách tiền tệ là các chính sách ổn định kinh tế vĩ mô quan trọng, nhằm ổn định và phát triển kinh tế ”2. Theo Vũ Cao Đàm, “Chính sách tài chính là tập hợp những biện pháp tài chính nhằm thúc đẩy thực hiện một hoặc một số mục tiêu kinh tế và/hoặc xã hội”3 [11, tr.
“Phân loại theo công cụ tác động của chính sách thì Chính sách tài chính là một chính sách công cụ nhằm phục vụ một mục tiêu phát triển nào đó, chẳng hạn chính sách phát triển của một quốc gia hoặc chính sách phát triển một ngành cụ thể trong một quốc gia, như chính sách công nghiệp, chính sách nông nghiệp, chính sách khoa học và công nghệ. Chính sách tài chính rất đa dạng: từ chính sách đầu tư, chính sách tín dụng, đến các chính sách cụ thể như chính sách thuế, chính sách giá… ” [9, tr.org/kiwi/Chính_sách_tài_chính, Bách khoa toàn thư, 22. 3 Vũ Cao Đàm (2011), Tuyển tập các công trình đã công bố, Tập II: Nghiên cứu chính sách và chiến lược, NXB Thế giới, tr. 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com “Xét về mặt nội dung của các biện pháp, chính sách tài chính có thể bao gồm chính sách vốn cho KH&CN; chính sách giá cả đối với sản phẩm KH&CN; chính sách lợi nhuận đối với sản phẩm KH&CN; chính sách thuế đối với sản phẩm KH&CN; chính sách khấu hao thiết bị trong KH&CN; chính sách thu nhập đối với những người hoạt động trong lĩnh vực KH&CN, ….
Chẳng hạn, trong chính sách tạo nguồn vốn, Nhà nước (hoặc một chủ thể chính sách bất kỳ) có thể có các biện pháp ưu đãi để kích thích tạo nguồn lực vốn hoặc có các biện pháp hạn chế tạo nguồn vốn. Cũng có những biện pháp tương tự đối với các chính sách giá cả, chính sách lợi nhuận, chính sách thuế, chính sách khấu hao và chính sách thu nhập. Tuy nhiên, tùy loại hoạt động mà chính sách tài chính có thể bao gồm một hoặc một số loại chính sách trong danh mục trên đây. Trong KH&CN, có lẽ quan trọng nhất là chính sách vốn và chính sách thuế” [11, tr.
Nghiên cứu khoa học: Theo Luật KH&CN năm 2013, “Nghiên cứu khoa học là hoạt động khám phá, phát hiện, tìm hiểu bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn” [18, điều 3]. Theo Vũ cao Đàm, “Nghiên cứu khoa học là sự tìm tòi, khám phá bản chất các sự vật và sáng tạo các giải pháp tác động trở lại sự vật, biến đổi sự vật theo mục đích sử dụng 4 [10, tr. Phân loại theo tính chất của sản phẩm nghiên cứu, nghiên cứu khoa học bao gồm nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và nghiên cứu triển khai Nghiên cứu cơ bản: là những nghiên cứu phân tích các thuộc tính, cấu trúc, hiện tượng các sự vật nhằm phát triển bản chất và quy luật của các sự vật hoặc hiện tượng trong tự nhiên, xã hội, con người. Kết quả của nghiên cứu cơ bản luôn là những phân tích lý luận, quy luật, định luật, định lý … 4 Vũ Cao Đàm (2011), Tuyển tập các công trình đã công bố, Tập I: Lý luận và phương pháp luận khoa học, NXB Thế giới, 2011, tr.
80-96 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nghiên cứu ứng dụng: là sự vận dụng các quy luật từ trong nghiên cứu cơ bản để đưa ra những mô tả, giải thích, dự báo hoặc những nguyên lý về các giải pháp … Kết quả của nghiên cứu ứng dụng có thể là một giải pháp mới về tổ chức, quản lý, xã hội hoặc công nghệ, vật liệu, sản phẩm … Nghiên cứu triển khai: là sự vận dụng các quy luật (thu được từ trong nghiên cứu cơ bản) và các nguyên lý (thu được từ trong nghiên cứu ứng dụng) để đưa ra các hình mẫu với những tham số đủ mang tính khả thi về kỹ thuật. Kết quả của nghiên cứu triển khai là mẫu thiết bị, qui trình công nghệ, các giống cây con mới, sản phẩm mới, các cải tiến kỹ thuật nâng cao phương pháp công nghệ sản xuất đã có” “Phân loại nghiên cứu khoa học theo quan niệm R&D của UNESCO, UNESCO chia thành nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và triển khai thực nghiệm, viết tắt là R&D. - Nghiên cứu cơ bản là những nghiên cứu (lý thuyết hoặc thực nghiệm) nhằm tạo ra các tri thức mới về căn nguyên của các sự vật và hiện tượng, chưa có một ứng dụng đặc biệt nào. Trong định nghĩa này có 2 điểm đáng lưu ý: 1) Tuy trong định nghĩa ghi là “chưa có một ứng dụng đặc biệt nào”, nhưng UNESCO cũng chia làm 2 loại nghiên cứu cơ bản: Nghiên cứu cơ bản thuần túy, không xét đến ứng dụng thực tế và nghiên cứu cơ bản định hướng, đã xét đến phương hướng ứng dụng.
2) UNESCO chỉ có định nghĩa về nghiên cứu cơ bản cho các khoa học, không có định nghĩa riêng về nghiên cứu cơ bản trong khoa học xã hội và nhân văn. - Nghiên cứu ứng dụng: là những nghiên cứu nhằm tạo ra các tri thức mới, nhưng chủ yếu là nhằm vào một mục đích (chữ “nhưng” ở đây trả lời câu hỏi “nghiên cứu để làm cái gì?) hoặc mục tiêu (“mục tiêu” ở đây là để trả lời câu hỏi “nghiên cứu cái gì?) thực tế đặc biệt. - Triển khai là những nghiên cứu hoặc thực nghiệm nhằm tạo ra các vật liệu mới, sản phẩm mới, các hệ thống và dịch vụ mới nhằm hoàn thiện những sản phẩm vốn tồn tại. Trong định nghĩa này, UNESCO cũng đưa ra một hình dung chi tiết về nội dung của triển khai, gồm 3 giai đoạn: 21 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com + Chế tác mẫu sơ khởi (Prototypes): làm ra mẫu (của sản phẩm hoặc công nghệ) đầu tiên, như một bước hiện thực hóa tư tưởng khoa học thành sản phẩm hoặc công nghệ để chuẩn bị đưa vào sản xuất.
+ Làm Pilot (Installations pilots): Thử nghiệm để tạo ra quy trình sản xuất, tức tạo ra công nghệ sản xuất sản phẩm theo prototype đã làm thử thành công trong labô ở giai đoạn prototype. + Sản xuất thử nghiệm (Production exprerimental): Sản xuất thử, tức tạo ra công nghệ sản xuất “Loạt 0”, để khẳng định độ tin cậy của công nghệ.” Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng khái niệm nghiên cứu khoa học của UNESCO để chứng minh vấn đề cần nghiên cứu. Thiết chế: “Theo J.Fitcher thiết chế là một “hình trạng hoặc một sự phối hợp những khuôn mẫu tác phong được một đa số chấp nhận và tập trung vào sự thỏa mãn một nhu cầu cơ bản của công đồng” Về yếu tố cấu thành thiết chế, Gidden A. xác định rõ: “Thiết chế bao gồm những chuẩn mực và giá trị”.