Chương I Cơ sở lý luận 1. một số khái niệm có liên quan 1. Hoạt động khoa học và công nghệ Luật khoa học và công nghệ (2000) có định nghĩa, hoạt động khoa học và công nghệ bao gồm nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và phát triển công nghệ, dịch vụ khoa học và công nghệ, hoạt động phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất và các hoạt động khác nhằm phát triển khoa học và công nghệ4. Hoạt động KH&CN gồm: - Nghiên cứu và Triển khai (R&D) - Chuyển giao tri thức, bao gồm chuyển giao công nghệ - Phát triển công nghệ - Dịch vụ KH&CN Hoạt động KH&CN theo khái niệm của UNESCO được mô tả theo hình sau: FR AR D T TD STS FR Nghiên cứu cơ bản AR Nghiên cứu ứng dụng D Triển khai (Technological Experimental Development) T Chuyển giao tri thức (bao gồm chuyển giao công nghệ) TD Phát triển công nghệ trong sản xuất (Technology Development) STS Dịch vụ khoa học và công nghệ 1.
Nghiên cứu khoa học Nghiên cứu khoa học là một mảng quan trọng của hoạt động KH&CN, được định nghĩa: là hoạt động phát hiện, tìm hiểu các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo các giải pháp nhằm ứng dụng vào 4 Mục 3, điều 2, Luật khoa học và công nghệ, được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X, kỳ họp thứ 07 thông qua ngày 09 tháng 06 năm 2000. 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thực tiễn. Nghiên cứu khoa học bao gồm nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng5. Có thể nói, nghiên cứu khoa học là sự tìm tòi, khám phá trong một thế giới hoàn toàn chưa được biết đến, và kết quả tìm kiếm ra sao cũng không thể dự kiến trước một cách chi tiết.
Chính vì vậy, mà trong nghiên cứu khoa học, mỗi người nghiên cứu cần đưa ra một hoặc một số nhận định sơ bộ về kết quả cuối cùng của nghiên cứu, gọi đó là giả thuyết nghiên cứu, hoặc giả thuyết khoa học. Giả thuyết nghiên cứu, hoặc giả thuyết khoa học là một phán đoán về bản chất đối tượng nghiên cứu. Theo phán đoán này, người nghiên cứu tiếp tục đi tìm kiếm các luận cứ để chứng minh. Rất có thể kết quả nghiên cứu sẽ xác nhận giả thuyết khoa học đặt ra ban đầu là đúng.
Khi đó, người nghiên cứu khẳng định được một luận điểm khoa học của mình. Nhưng rất có thể kết quả nghiên cứu sẽ phủ định hoàn toàn phán đoán ban đầu, tức giả thuyết khoa học; khi đó, người ta nói, giả thuyết khoa học bị bác bỏ. Rốt cuộc, toàn bộ quá trình nghiên cứu khoa học chẳng qua là quá trình tìm kiếm các luận cứ để chứng minh hoặc bác bỏ giả thuyết khoa học, tức luận điểm khoa học của tác giả. Đặc điểm của nghiên cứu khoa học: Đặc điểm chung nhất của nghiên cứu khoa học là sự tìm tòi những sự vật mà khoa học chưa hề biết đến.
Đặc điểm này dẫn đến hàng loạt các đặc điểm khác của nghiên cứu khoa học mà người nghiên cứu cũng như người quản lý nghiên cứu cần phải quan tâm khi xử lý những vấn đề cụ thể về mặt phương pháp luận nghiên cứu và tổ chức nghiên cứu. Những đặc điểm sau đây là những căn cứ quan trọng được sử dụng để xây dựng các chỉ tiêu đánh giá xét duyệt cũng như nghiệm thu các đề tài/dự án khoa học và công nghệ. - Tính mới: Vì nghiên cứu khoa học là quá trình thâm nhập thế giới của những sự vật mà khoa học chưa biết, cho nên quá trình nghiên cứu khoa học luôn là quá trình hướng tới những phát hiện mới hoặc sáng tạo mới. Trong 5 Mục 4, điều 2, Luật khoa học và công nghệ.
18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nghiên cứu khoa học không có sự lặp lại như cũ những phát hiện hoặc sáng tạo. Vì vậy tính mới là thuộc tính quan trọng số một của lao động khoa học. - Tính tin cậy: một kết quả nghiên cứu đạt được nhờ một phương pháp nào đó phải có khả năng kiểm chứng lại nhiều lần trong những điều kiện hoàn toàn giống nhau và với những kết quả thu được hoàn toàn giống nhau. Một kết quả thu được ngẫu nhiên dù phù hợp với giả thuyết đã đặt ra trước đó cũng chưa thể xem là đủ tin cậy để kết luận về bản chất của sự vật hoặc hiện tượng.
Đặc điểm này dẫn đến một nguyên tắc mang tính phương pháp luận rất quan trọng của nghiên cứu khoa học. Đó là khi trình bày một kết quả nghiên cứu, người nghiên cứu cần chỉ rõ những điều kiện, các nhân tố và phương tiện thực hiện. Nguyên tắc này mang tính chung cho cả khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật, khoa học xã hội và nhân văn. - Tính thông tin: Sản phẩm của nghiên cứu khoa học được thể hiện dưới nhiều dạng như một báo cáo khoa học, tác phẩm khoa học, một mẫu vật liệu mới, mẫu sản phẩm mới, mô hình thí điểm, giải pháp mới,… Tuy nhiên trong tất cả các dạng thể hiện trên sản phẩm khoa học luôn mang đặc trưng thông tin.
Đó là những thông tin về quy luật vận động của sự vật, thông tin về quy trình công nghệ, tính năng của sản phẩm mới… - Tính khách quan: Tính khách quan vừa là một đặc điểm của nghiên cứu khoa học, vừa là một tiêu chuẩn về phẩm chất của người nghiên cứu khoa học. Trong xã hội khoa học người ta xem đó là một chuẩn mực giá trị. - Tính rủi ro: khám phá bản chất sự vật và sáng tạo sự vật mới là một quá trình có thể gặp thất bại, đó là tính rủi ro của nghiên cứu khoa học. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro có nhiều dạng như do thiếu thông tin, trình độ, năng lực thiết bị, người nghiên cứu còn hạn chế… Tuy nhiên trong nghiên cứu khoa học, thất bại cũng được xem là một kết quả.
- Tính kế thừa: mỗi nghiên cứu thường phải kế thừa các kết quả nghiên cứu trước đó, thậm chí trong những lĩnh vực khoa học khác xa nhau. Tính kế thừa có một ý nghĩa quan trọng về phương pháp luận nghiên cứu. 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Tính cá nhân: dù là một công trình nghiên cứu khoa học do một tập thể thực hiện thì vai trò cá nhân trong sáng tạo cũng mang tính quyết định. Tính cá nhân được thể hiện trong tư duy cá nhân và chủ kiến riêng của cá nhân.
- Tính trễ trong áp dụng: một kết quả nghiên cứu thường không thể áp dụng ngay vào sản xuất và đời sống được. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến đặc điểm trên như điều kiện kinh tế, tâm lý xã hội, văn hoá… Độ trễ ở mỗi lĩnh vực nghiên cứu thường khác nhau. - Tính phi kinh tế: lao động nghiên cứu khoa học rất khó định mức một cách chính xác. Những thiết bị chuyên dụng cho nghiên cứu khoa học hầu như không thể khấu hao (tần suất sử dụng không ổn định và hầu như rất thấp, tốc độ hao mòn vô hình luôn vượt trước rất xa so với tốc độ hao mòn hữu hình, hiệu quả kinh tế của nghiên cứu khoa học hầu như không thể xác định).
Phân loại nghiên cứu khoa học - Theo chức năng nghiên cứu có: Nghiên cứu mô tả, là nghiên cứu nhằm đưa ra một hệ thống tri thức về nhận dạng sự vật, giúp phân biệt được sự khác nhau về bản chất giữa sự vật này với sự vật khác. Nghiên cứu giải thích, là nghiên cứu nhằm làm rõ nguyên nhân dẫn đến sự hình thành và quy luật chi phối quá trình vận động của sự vật. Nghiên cứu giải pháp: là nghiên cứu nhằm làm ra một sự vật mới chưa từng tồn tại. Nghiên cứu dự báo, là những nghiên cứu nhằm nhận dạng trạng thái của sự vật trong tương lai.
- Theo các giai đoạn của nghiên cứu có: Nghiên cứu cơ bản (basic research), là những nghiên cứu nhằm phát hiện thuộc tính, cấu trúc, động thái các sự vật, tương tác trong nội bộ sự vật và mối liên hệ giữa sự vật với các sự vật khác. Nghiên cứu ứng dụng (applied research), là sự vận dụng quy luật được phát hiện từ nghiên cứu cơ bản để giải thích một sự vật; tạo ra những nguyên lý mới về các giải pháp và áp dụng chúng vào sản xuất và đời sống. 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Triển khai (experimental development), còn gọi là triển khai thực nghiệm, là sự vận dụng các lý thuyết để đưa ra các hình mẫu với những tham số khả thi về kỹ thuật. Khái niệm đề tài/dự án - Đề tài/dự án Đề tài là một hình thức tổ chức nghiên cứu khoa học, trong đó có một nhóm người cùng thực hiện một nhiệm vụ nghiên cứu.
Đề tài định hướng vào việc trả lời những câu hỏi về ý nghĩa học thuật, chưa quan tâm nhiều đến việc hiện thực hoá trong hoạt động thực tế. Dự án là một loại đề tài có mục đích ứng dụng xác định, cụ thể về kinh tế xã hội. Dự án có những đòi hỏi khác đề tài như: đáp ứng một nhu cầu đã được nêu ra; chịu sự ràng buộc của kỳ hạn và thường là ràng buộc về nguồn nhân lực6 Nói một cách bao quát hơn, từ “dự án” theo đại bách khoa toàn thư điện tử Wikipedia, được định nghĩa là “Điều người ta có ý định làm từ trước” hay “cái mà xảy đến trước khi điều gì khác được thực hiện”. Ta có thể nhận thấy hai yếu tố nổi bật gắn liền với thuật ngữ dự án là: tính ý tưởng, ý đồ, ý muốn và tính hành động, sự nỗ lực đưa những ý tưởng, ý muốn vào thực tế 7.
Một dự án là một chuỗi những hành động nhằm thực hiện được những mục tiêu rõ ràng đã được xác định trước trong một khoảng thời gian xác định và với một nguồn ngân sách xác định. Một dự án phải có: + Các bên liên quan được xác định rõ ràng, bao gồm các nhóm mục tiêu cơ bản và những lợi ích tài chính, + Có sự điều phối, quản lý và sắp xếp tài chính rõ ràng, + Một hệ thống đánh giá và kiểm tra (để hỗ trợ việc quản lý), và + Một cấp độ phân tích kinh tế và tài chính thích hợp, để từ đó xác định được lợi nhuận thu được sẽ vượt quá chi phí ban đầu. - Đề tài/dự án khoa học 6 Vũ Cao Đàm, Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, NXB Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội, 2005, tr.org/wiki/project 21 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.