Chương 1 đã trình bày tổng quan về lý do chọn đề tài, mục tiêu, phạm vi, đối tượng, phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa của việc nghiên cứu. Chương 2 này sẽ trình bày tổng quan về thương hiệu và trải nghiệm thương hiệu. Đồng thời chương này cũng trình bày các nghiên cứu có liên quan như: nghiên cứu của Brakus và cộng sự (2009); Ishida và Taylor (2012); Westhuizen (2018); Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai trang (2008); Phạm Thị Lan Hương và Ngô Thị Hồng (2016); Nguyễn Thị Hồng Nguyệt (2020); và Vũ Thị Tình (2020). Từ đó đề xuất mô hình lý thuyết và các giả thuyết nghiên cứu.
Tổng quan về thương hiệu và trải nghiệm thương hiệu 2. Thương hiệu Thương hiệu là khái niệm trong người tiêu dùng về sản phẩm với dấu hiệu của nhà sản xuất gắn lên mặt, lên bao bì hàng hoá nhằm khẳng định chất lượng và xuất xứ sản phẩm. Thương hiệu thường gắn liền với quyền sở hữu của nhà sản xuất và thường được uỷ quyền cho người đại diện thương mại chính thức.1: Mô hình về mối quan hệ giữa sản phẩm và thương hiệu (Nguồn: Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang, 2008) Có nhiều quan điểm về thương hiệu. Quan điểm truyền thống cho rằng thương hiệu là một phần của sản phẩm.
Họ nhấn mạnh thương hiệu chỉ là một cái 9 tên, biểu tượng, ký hiệu, kiểu dáng hay một sự phối hợp của các yếu tố nhằm mục đích để nhận dạng sản phẩm hay dịch vụ của một nhà sản xuất và phân biệt với các thương hiệu của đối thủ cạnh tranh. Còn theo quan điểm tổng hợp cho rằng sản phẩm chỉ là một phần của thương hiệu. Họ nhấn mạnh thương hiệu không chỉ là một cái tên hay một biểu tượng mà phức tạp hơn nó là tập hợp các thuộc tính cung cấp cho khách hàng mục tiêu các giá trị mà nó đòi hỏi (Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang, 2008). Theo Simon (2003) thương hiệu là một sản phẩm, dịch vụ hay tổ chức, có tên gọi, nhận diện và uy tín đã được công nhận.
Theo quan điểm truyền thống: “Thương hiệu là một dấu hiệu đặc biệt để nhận biết sản phẩm, một hàng hóa hay một dịch vụ nào đó được sản xuất, được cung cấp bởi một tổ chức hay một cá nhân” (Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới WIPO - World Intellectual Property Organization). Theo hiệp hội Marketing Hoa Kỳ, thì thương hiệu là “một cái tên, một từ ngữ, một dấu hiệu, một biểu tượng, một hình vẽ hay tổng hợp tất cả các yếu tố trên nhằm xác định các sản phẩm hay dịch vụ của một (hay một nhóm người bán) và phân biệt các sản phẩm (dịch vụ) đó với các đối thủ cạnh tranh”. Theo quan điểm này thì thương hiệu được xem như là một cái tên, biểu tượng, ký hiệu hay một sự phối hợp của các yếu tố trên nhằm mục đích để nhận dạng sản phẩm hay dịch vụ của một nhà sản xuất và phân biệt với thương hiệu của các đối thủ cạnh tranh (Kotler, 1994). Theo Lassar và cộng sự (1995), một thương hiệu được khách hàng đánh giá cao sẽ tạo lợi thế cạnh tranh bởi vì sự tin tưởng của khách hàng dành cho thương hiệu đó sẽ cao hơn so với thương hiệu của đối thủ cạnh tranh.
Thương hiệu đóng vai trò quan trọng trong quyết định mua một thương hiệu hàng hóa, dịch vụ nhất định thay vì hàng hóa, dịch vụ của thương hiệu khác (Swait và cộng sự, 1993). Nói chung, thương hiệu được tin tưởng sẽ gia tăng lợi thế cạnh tranh so với các thương hiệu của đối thủ. Trải nghiệm thương hiệu 10 Trải nghiệm thương hiệu là cách các sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp được sử dụng bởi khách hàng tiềm năng hoặc các khách hàng hiện tại. Trải nghiệm thương hiệu là một cá nhân phản hồi khi tương tác với thương hiệu.
Brakus và cộng sự (2009) định nghĩa trải nghiệm thương hiệu một cách chi tiết hơn là những phản ứng nội tại và chủ quan của khách hàng (cảm giác, tình cảm và nhận thức), và những phản ứng hành vi được kích hoạt bởi các tác nhân thương hiệu liên quan đến nhận diện thương hiệu, bao bì, thiết kế, môi trường và truyền thông. Hay Verhoef (2009) định nghĩa trải nghiệm thương hiệu là nhận thức, tình cảm, cảm xúc và sự phản ứng của khách hàng đối với thương hiệu, đối với sản phẩm và đối với người cung cấp dịch vụ. Trải nghiệm thương hiệu được tạo ra từ những gắn kết về mặt chức năng, kĩ thuật và con người đem lại bởi công ty (Berry và Carbone, 2007). Trải nghiệm cảm giác Là những trải nghiệm có được thông qua 5 giác quan (thị giác, thính giác, khướu giác, xúc giác và vị giác) được cung cấp bởi một thương hiệu (Brakus và cộng sự, 2009).
Đối với các thương hiệu của các sản phẩm bán lẻ, khi khách hàng trải nghiệm sản phẩm, các thông tin về cảm giác của người tiêu dùng có được sẽ được khách hàng ghi nhớ và có khả năng những thông tin này làm tăng ý định mua, mua lặp lại sản phẩm (Ishida và Taylor, 2012). Như vậy, khi mua sắm tại các cửa hàng, trải nghiệm cảm giác được thể hiện thông qua các kích thích từ cửa hàng đến các giác quan của khách hàng như: Bầu không khí cửa hàng tạo ra kích thích xúc giác, cách bày trí sản phẩm tạo ra kích thích thị giác,.2 Trải nghiệm tình cảm Là những trải nghiệm của khách hàng về mặt tình cảm, cảm xúc bao gồm những cảm xúc được tạo ra bởi thương hiệu và sự ràng buộc về tình cảm, cảm xúc với người tiêu dùng (Brakus và cộng sự, 2009). Tình cảm có liên quan đến trải nghiệm của khách hàng khi tham gia vào hoạt động mua sắm là những tình cảm mà khách hàng có được trong suốt quá trình tham quan, mua sắm tại các cửa hàng. Tâm trạng tích cực liên kết khách hàng với một thương hiệu được thực 11 hiện thông qua những tình cảm, cảm xúc mạnh mẽ, niềm vui và tự hào khi được sử dụng thương hiệu đó.3 Trải nghiệm suy nghĩ Khách hàng được kích hoạt trí sáng tạo và phát triển tư duy thông qua tương tác với thương hiệu (Brakus và cộng sự, 2009).
Những trải nghiệm của khách hàng tại các cửa hàng có khả năng tạo cho khách hàng những suy nghĩ, tư duy, tò mò về thương hiệu, dịch vụ và cũng có thể tạo cho khách hàng những nhận thức về thương hiệu đó.4 Trải nghiệm hành vi Là những trải nghiệm khách hàng có được khi sử dụng thương hiệu khiến cho khách hàng phát sinh những hành vi, hành động thể chất (Brakus và cộng sự, 2009). Giá trị tạo cho khách hàng chính là sự thay đổi về hành vi, lối sống thông qua tương tác với thương hiệu. Các nghiên cứu có liên quan 2. Các nghiên cứu nước ngoài 2.1 Nghiên cứu của Brakus và cộng sự (2009) Nghiên cứu của Brakus và cộng sự (2009) về trải nghiệm thương hiệu là gì? Đo lường như thế nào và ảnh hưởng của nó lên lòng trung thành được thực hiện khảo sát 209 sinh viên tại Mỹ về trải nghiệm thương hiệu từ lĩnh vực kinh doanh sản phẩm vật chất như điện thoại, máy tính bảng (Apple/Iphone, Ipod, Ipad), ô tô (BMW), sản phẩm thể thao (Nike) đến kinh doanh dịch vụ mua sắm, du lịch, giải trí (Target, Starbucks, W Hotel, Disney).
Nghiên cứu thực hiện đo lường trải nghiệm thương hiệu theo 4 thành phần cảm giác, tình cảm, suy nghĩ và hành động và đã kiểm định và độ tin cậy của thang đo; bên cạnh đó khái niệm đa tiêu thức là tính cách thương hiệu được đo lường bởi 5 thành phần: chân thành, phấn khích, có năng lực, tinh tế, mạnh mẽ (Aaker, 1997).2: Mô hình tác động của trải nghiệm thương hiệu đến lòng trung thành thương hiệu của Brakus và cộng sự (2009) (Nguồn: Brakus và cộng sự, 2009) Kết quả nghiên cứu đã kiểm định được ảnh hưởng có ý nghĩa và tích cực của trải nghiệm thương hiệu tổng thể đến lòng trung thành thương hiệu thông qua tính cách thương hiệu và sự hài lòng thương hiệu. Nghiên cứu của Ishida và Taylor (2012) Nghiên cứu này đã kiểm chứng mô hình nghiên cứu của Brakus và cộng sự (2009) trong lĩnh vực bán lẻ. Nhóm tác giả đã thực hiện khảo sát trên 225 người tiêu dùng đi mua sắm tại hai hệ thống siêu thị Walmart và Best Buy. Ở đây, trải nghiệm thương hiệu bán lẻ được đo lường trên 4 thành phần: cảm giác, tình cảm, suy nghĩ và hành vi theo quan điểm của Brakus và cộng sự (2009).
Kết quả nghiên cứu cho thấy kết quả tương đối đồng nhất với kết quả của Brakus và cộng sự (2009). Nghiên cứu của Westhuizen (2018) Nghiên cứu lòng trung thành thương hiệu: khám phá kết nối thương hiệu cá nhân với trải nghiệm thương hiệu được thực hiện bởi Westhuizen (2018) nhằm mục đích xác định kết nối thương hiệu cá nhân có liên quan đến lòng trung thành thương hiệu thông qua trải nghiệm thương hiệu. Trải nghiệm thương hiệu làm trung gian cho mối liên hệ giữa kết nối thương hiệu cá nhân và lòng trung thành thương hiệu. Dữ liệu được thu thập trực tuyến thông qua Facebook có trả phí.
Mô hình lý thuyết của Westhuizen (2018) cho rằng, trải nghiệm thương hiệu chịu sự tác động bởi kết nối thương hiệu cá nhân và có tác động đến lòng trung thành; Đồng thời thông qua nó, kết nối thương hiệu cá nhân tác động đến lòng trung thành thương hiệu. Bên cạnh đó, kết nối thương hiệu cá nhân cũng ảnh hưởng trực tiếp đến lòng trung thành.3: Mô hình nghiên cứu của Westhuizen (2018) (Nguồn: Westhuizen, 2018) 14 Với 317 bảng câu hỏi được thu thập và đưa vào phân tích, cho thấy, trải nghiệm thương hiệu là biến trung gian hoàn hảo cho mối liên hệ giữa kết nối thương hiệu cá nhân và lòng trung thành thương hiệu. Các nghiên cứu trong nước 2. Nghiên cứu của Phạm Thị Lan Hương và Ngô Thị Hồng (2016) Nghiên cứu của Phạm Thị Lan Hương và Ngô Thị Hồng (2016) về tác động của trải nghiệm thương hiệu đến quan hệ thương hiệu ứng dụng cho ngành bán lẻ nhằm đo lường sự tác động của trải nghiệm thương hiệu đến quan hệ thương hiệu.
Dữ liệu được thu thập bằng phương pháp phỏng vấn cá nhân trực tiếp với mẫu là 260 người tiêu dùng trong độ tuổi 18–55 đến mua sắm tại các hệ thống siêu thị bán lẻ của Big C, Co.op Mart và Lotte Mart của thành phố Đà Nẵng. Phạm Thị Lan Hương và Ngô Thị Hồng (2016) cũng cho rằng: trải nghiệm thương hiệu bao gồm 4 thành phần: Trải nghiệm cảm giác: là những trải nghiệm có được từ năm giác quan (thị giác, khứu giác, thính giác, xúc giác và vị giác).