Chương 1 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN Ở VIỆT NAM 1. Tư tưởng và học thuyết về nhà nước pháp quyền qua các thời kỳ 1. Tư tưởng về nhà nước pháp quyền thời cổ đại Những ý niệm đầu tiên về nhà nước pháp quyền xuất hiện ngay từ thời kỳ đầu tiên của nền văn minh nhân loại. Ngay từ thời cổ đại xa xưa, loài người đã bắt đầu tìm kiếm những hình thức xã hội công bằng, tốt đẹp.
Cùng với tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại, những ý niệm ban đầu này đã được các nhà tư tưởng phát triển và hình thành nên tư tưởng về hình thức tổ chức quyền lực xã hội mà trong đó pháp luật trở thành quy phạm bắt buộc đối với mọi người, là sức mạnh mang tính nhà nước và quyền lực xã hội được pháp luật thừa nhận trở thành quyền lực nhà nước. Những tư tưởng này được hình thành qua nhiều giai đoạn. Giai đoạn thứ nhất (thế kỷ VIII-V tr. CN) gắn sự hình thành của các Nhà nước và pháp luật.
Giai đoạn thứ hai (thế kỷ V-nửa đầu thế kỷ IV tr. CN) gắn liền sự phát triển cao của các thể chế Nhà nước. Giai đoạn thứ ba (nửa sau thế kỷ IV - thế kỷ II tr. CN) gắn liền với sự suy vong của Nhà nước thành bang Hy Lạp cổ đại.
Có thể thấy những tư tưởng này đã có mầm mống ở nhiều nơi trên thế giới, cả phương Đông lẫn phương Tây. Ở phương Tây Tư tưởng Nhà nước pháp quyền ở phương Tây cổ đại chủ yếu gắn liền với sự phát triển của nền dân chủ Hy Lạp và La Mã, có phần sâu sắc hơn vì được dựa trên cơ sở tư duy triết học. Các nhà tư tưởng chú ý tới tính tối cao của đạo luật và sự tổ chức hợp lý của bộ máy nhà nước. Họ cho rằng pháp luật là pháp luật tự nhiên, pháp luật xuất phát từ bản chất lý trí của con người 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com và của thế giới xung quanh con người, pháp luật của Nhà nước phải đáp ứng yêu cầu của luật tự nhiên [29].
Trong thế kỷ thứ VI tr. CN, Xôlông (Solon, 638-559 tr. CN) khi chủ trương cải cách triệt để Nhà nước thành bang Hy Lạp đã cho rằng, quyền lực cần đặt ngang hàng với pháp luật và cả hai đều là phương tiện để đạt tới tự do và công bằng. Xôlông xác định sẽ "giải phóng tất cả mọi người bằng quyền lực của pháp luật, bằng sự kết hợp sức mạnh với pháp luật".
Giữa thế kỷ này, Pitago (580-500 tr. CN) đòi phải thực hiện mệnh lệnh của Nhà nước, tức là phải tuân thủ pháp luật. Pháp luật phải được đặt cao hơn các phong tục, tập quán truyền thống không thành văn. Cuối thế kỷ VI - đầu thế kỷ V tr.
CN, Hêracơlit (Heraclite, 530-470 tr. CN) hết sức coi trọng pháp luật và quan niệm rằng, pháp luật là phương thức để thực hiện cái phổ biến. Do đó, "nhân dân phải đấu tranh để bảo vệ pháp luật như bảo vệ chốn nương thân của mình". Thế kỷ V tr.
CN, Hêrôđôt (Herodote, 480-425 tr. CN) khi so sánh ba chính thể quân chủ, quý tộc và cộng hoà, đã gợi ý về một thể chế chính trị hỗn hợp giữa các giá trị của ba loại chính thể trên. Ông khẳng định, quyền lực trong xã hội là thuộc về dân, xã hội phải được quản lý theo nguyên tắc công bằng trước pháp luật. Đemôcơrít (Democrite, 460-370 tr.
CN) cho rằng Nhà nước và pháp luật là sản phẩm của cuộc đấu tranh lâu dài của con người nhằm liên kết với nhau thành cộng đồng. Nhà nước là sự thể hiện quyền lực chung của công dân. Tự do của công dân nằm trong sự tuân thủ pháp luật. Cuối thế kỷ V tr.
CN, khi nền dân chủ A-ten lâm vào khủng hoảng, Xôcơrat (Socrate, 469, 399 tr. CN) cho rằng dân chủ không thể tồn tại được vì thiếu pháp luật hay pháp luật bất lực thì công bằng và công lý sẽ bị vi phạm. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Cuối thế kỷ V đầu thế kỷ IV tr. CN, Platôn (Platon, 427 - 347 tr.
CN) xác định rằng, người cầm quyền phải gạt sang một bên ý chí cá nhân để tuân thủ và nhân danh ý chí của pháp luật. Platôn nhìn thấy “sự sụp đổ nhanh chóng của Nhà nước ở nơi nào mà pháp luật không được đề cao và nằm dưới quyền lực của một ai đó. Còn ở nơi nào pháp luật đứng trên các nhà cầm quyền và các nhà cầm quyền chỉ là nô lệ của pháp luật, thì tôi thấy ở đó có sự cứu thoát Nhà nước và những lợi ích mà chỉ có Thượng đế mới có thể tặng cho các Nhà nước''. Arixtot (384 - 322 TCN) - nhà tư tưởng vĩ đại nhất của thời cổ đại cho rằng pháp luật cần thống trị trên tất cả.
Theo ông thì yếu tố cấu thành cơ bản của phẩm chất chính trị trong luật pháp là sự phù hợp của tính đúng đắn về chính trị của nó với tính pháp quyền; không thể có pháp luật nếu như việc cầm quyền không tuân theo pháp luật, chà đạp lên pháp luật, mưu toan thống trị bằng bạo lực. Pôlybi (Polybe, 201-120 tr. CN) là người La Mã đầu tiên nêu lên những tư tưởng quan trọng về Nhà nước pháp quyền. Theo ông, ''không phải lý trí mà kinh nghiệm đã dạy chúng ta rằng hình thức chính phủ hoàn hảo nhất là hình thức được tạo nên từ ba chính thể quân chủ, quý tộc và cộng hoà".
Trong đó cơ quan chấp chính tối cao thuộc về vua, nguyên lão viện (nghị viện) thuộc về quý tộc và các cơ quan dân biểu (hội đồng) thuộc về nhân dân (chủ nô). Phân bố và giám sát quyền lực hợp lý, chặt chẽ là hai yếu tố cơ bản bảo đảm một Nhà nước vững mạnh và phát triển quốc gia La Mã thành một đế quốc hùng mạnh. Xixêrôn (Ceceron, 106 - 43 tr. CN) cho rằng, Nhà nước là ''một cộng đồng pháp lý''.
Nhà nước là của chung nhân dân và là trật tự chung. ''Nhân dân không phải là một tập hợp bất kỳ, mà là một tập hợp liên kết với nhau bằng sự thoả thuận về pháp luật và bằng tính cộng đồng của các lợi ích 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Nhà nước chỉ có ở nơi nào không có bạo lực và chuyên quyền. Sự cần thiết của Nhà nước bắt nguồn từ bản chất trốn chạy sự cô đơn và khao khát đời sống cộng đồng của con người.
Công bằng là mệnh lệnh từ lý trí của con người mà Nhà nước phải tuân theo. Pháp luật là ''lẽ phải chính trực phù hợp với bản chất có trong tất cả mọi sinh vật''. Pháp luật là công pháp giữ vai trò điều chỉnh các mối quan hệ xã hội. ''Phục tùng pháp luật là bắt buộc đối với tất cả mọi người”.
Xixêrôn đã xác định được pháp quyền tự nhiên, nhưng pháp quyền đó vẫn còn ''treo lơ lửng trong không khí'' và chưa tìm thấy điểm tựa trong hiện thực. Như vậy có thể thấy, ngay từ thời cổ đại đã có những tư tưởng đề cao vấn đề dân chủ như một hình thức Nhà nước. Theo đó, Nhà nước chỉ là sự thể hiện quyền lợi chung của công dân và lấy việc phục vụ con người cá nhân và xã hội làm mục đích. ý tưởng về sự kết hợp giữa Nhà nước và pháp luật là cách tốt nhất để khách quan hoá Nhà nước, hạn chế ý muốn chủ quan của nhà cầm quyền.
Nhà nước tuân theo pháp luật là tuân theo ý chí chung của xã hội. Xuất hiện yêu cầu về Nhà nước pháp quyền nhằm bảo đảm sự phát triển của kinh tế - xã hội, vừa bảo đảm sự tồn tại của bản thân Nhà nước. Bên cạnh đó, quyền lực Nhà nước dù của vua, của quý tộc hay của dân đều thông qua các cá nhân cầm quyền và có xu hướng bị lạm dụng. Quyền lực Nhà nước luôn luôn cũng có xu hướng bành trướng và hạn chế quyền tự do của con người.
Để khắc phục tình trạng này cần phân biệt quyền lực Nhà nước thành các quyền khác nhau theo chức năng, nhiệm vụ của nó. Cùng với tư tưởng quản lý xã hội bằng pháp luật, tư tưởng phân chia, kiểm soát quyền lực trong một Nhà nước đã phôi thai. Như vậy, tư tưởng Nhà nước pháp quyền thời cổ đại nhằm chống lại sự chuyên quyền, độc đoán, vô chính phủ, đấu tranh xác lập và phát triển nền dân chủ. Theo các nhà triết học phương Tây, pháp luật không chỉ là công cụ cai trị của Nhà nước mà còn là phương thức điều chỉnh quan trọng nhất đối 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com với các quan hệ xã hội, bản thân Nhà nước cũng phải phục tùng pháp luật.
Ở phương Đông Trong xã hội chiếm hữu nô lệ ở Trung Quốc cổ đại diễn ra cuộc đấu tranh quyết liệt xung quanh vấn đề trị nước, an dân bằng cách thức nào, dùng pháp luật hay đạo đức, lễ nhạc. Nho giáo do Khổng Tử sáng lập lúc đầu chủ trương “nhân trị”, “lễ trị” hoàn toàn nhưng về sau đã phải tìm kiếm đến những yếu tố thích hợp của tư tưởng pháp trị. “Lễ trị” của Khổng Tử có tác dụng rất sâu sắc và bao quát, vừa là sự cụ thể hoá, vừa là công cụ, biện pháp để thực hiện đức trị và “chính danh” nhằm tạo ra một trật tự trong các quan hệ gia đình và xã hội. Theo Mạnh Tử, vua vâng mệnh trời để trị dân, nhưng mệnh trời phải hợp với lòng dân, vai trò chủ chốt là của dân và sự phụ thuộc của nhà cầm quyền vào nhân dân.
Tuân Tử đã kết hợp “lễ trị với luật” để trị nước. Có thể coi đây là chiếc cầu nối giữa tư tưởng nhân - lễ trị của Khổng - Mạnh và tư tưởng pháp trị sau này. Hàn Phi Tử đã phát triển tư tưởng pháp trị lên đến đỉnh cao, coi pháp luật là cơ sở duy nhất để quản lý xã hội, pháp luật phải thay đổi theo thời cuộc, “thời biến, pháp biến”. Nho giáo mà tiêu biểu là Khổng Tử cũng không phủ nhận hoàn toàn vai trò của pháp luật nhưng quan niệm và cách thức vận dụng pháp luật khác nhiều so với Hàn Phi Tử.
Cùng là dùng hình luật để cai trị nhưng Pháp gia khác với Nho gia. Pháp gia thì xem việc dùng hình phạt dù nặng hay nhẹ đều là việc hiển nhiên, còn Nho gia khi dùng đến hình phạt cho rằng đó là phương tiện mà không phải là mục đích. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.