Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ NHÀ NƯỚC VÀ VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG SỰ PHÁT TRIỂN Có thể nói, có rất nhiều tác phẩm, nhiều công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến các mô hình thể chế nhà nước cũng như vai trò của nhà nước đối với sự phát triển nói chung và đối với nền kinh tế thị trường (KTTT) nói riêng. Từ thực tiễn hoạt động của các thể chế nhà nước trên thế giới, đã nảy sinh rất nhiều vấn đề mà các học giả, các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu đặc biệt quan tâm như mô hình nhà nước nào là tốt nhất, phù hợp nhất đối với các nước, nhất là các nước đang phát triển trong điều kiện hiện nay? Hay nhà nước nên làm gì và làm như thế nào để thúc đẩy sự phát triển? Trong mối quan hệ giữa nhà nước và thị trường, nhà nước nên chủ động can thiệp, tác động đến thị trường hay để thị trường tự điều tiết, tự vận động theo các quy luật khách quan của thị trường? Và nếu có can thiệp, thì cách thức và mức độ can thiệp của nhà nước đối với thị trường như thế nào để đạt hiệu quả cao hơn trong sự phát triển? Hoặc là nguyên nhân nào dẫn đến sự thành công cũng như sự thất bại của một số nhà nước trên thế giới? v. Để lý giải cho vấn đề này, các tác giả với các công trình khoa học, tuy có sự luận giải khác nhau, nhưng đều có một nhận định thống nhất là cần thiết phải có vai trò của nhân tố chính trị, mà trước hết và cơ bản nhất là vai trò của nhà nước trong sự phát triển của các quốc gia.
Sự thành công hay thất bại của một quốc gia, xét đến cùng, là do thể chế (cả về thể chế kinh tế và thể chế chính trị) của quốc gia đó. Một nhà nước có có trách nhiệm cao với thể chế kinh tế - chính trị hợp lý, khoa học, dân chủ sẽ phát huy được mọi nguồn lực, mọi tiềm năng để phát triển. Có thể kể đến một số tác phẩm sau đây: Báo cáo World Development Report, 1997: The State in a Changing World (Báo cáo về tình hình phát triển thế giới năm 1997: Nhà nước trong một thế giới đang chuyển đổi) của Ngân hàng Thế giới [46] là báo cáo về tình hình phát triển thế giới được xuất bản hàng năm, đã cung cấp cho người đọc một nguồn tư liệu có giá trị. Tập xuất bản này tập trung về nhà nước: nhà nước nên làm gì, nên làm như thế nào để có thể đạt được kết quả tốt hơn trong một thế giới đang thay đổi nhanh chóng.
Cuốn sách đề cập đến những diễn biến và chuyển đổi sâu sắc của thế giới đang đòi hỏi các nhà nước phải tư duy lại vai trò của mình, đưa ra các chủ trương và 8 giải pháp đúng, hoạt động có hiệu quả, đảm bảo ổn định chính trị và phát triển kinh tế xã hội bền vững. Thông qua những phân tích và đánh giá một cách khoa học với các nguồn tư liệu phong phú, cuốn sách đã nêu những đặc điểm của tình hình thế giới, những hoạt động thực tiễn của các nhà nước trong một vài thập kỷ gần đây. Trong những năm qua, nhiều quốc gia rút ra bài học rằng, ở đại đa số các nước đang phát triển, các nền kinh tế chuyển đổi đã bắt đầu chuyển hướng theo nền kinh tế thị trường, các chiến lược phát triển do nhà nước đóng vai trò chủ đạo đều đã thất bại. Nhiều người cảm thấy rằng, kết quả lôgic cuối cùng của tất cả các cải cách đó là "nhà nước với vai trò tối thiểu", tức nhà nước sẽ dần mất đi vai trò của mình, khi mà khu vực tư nhân hoạt động tốt hơn chính phủ về mọi mặt.
Những người chủ trương nhà nước tối thiểu mong muốn sẽ tạo ra một xã hội mà ở đó quyền cưỡng chế của nhà nước không còn cần thiết nữa. Báo cáo này giải thích tại sao quan điểm cực đoan đó lại trái với những chứng cứ về sự thành công của các nền kinh tế công nghiệp trong thế kỷ XIX của hoặc các câu chuyện thần kỳ về tăng trưởng của các nước Đông Á trong thời kỳ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai. Những quan điểm đó không những không hỗ trợ quan điểm về nhà nước tối thiểu mà còn chứng minh rằng, sự phát triển quốc gia, dân tộc luôn đòi hỏi một nhà nước hiệu quả, một nhà nước đóng vai trò chất xúc tác, khuyến khích và bổ khuyết những hoạt động của các xí nghiệp tư nhân và các cá nhân. Với những ví dụ điển hình về một số nhà nước hoạt động có hiệu quả cũng như một số nhà nước hoạt động kém hiệu quả, Báo cáo nhấn mạnh, những nhà nước có trách nhiệm cao thì thường đem lại những hiệu quả cao hơn và người dân sẽ được hưởng lợi từ những hoạt động của nhà nước đó.
Các tác giả cũng gợi ý những việc mà nhà nước phải làm và làm như thế nào trong tình hình thế giới đang có những chuyển đổi sâu sắc. Đặc biệt là, từ sự luận giải và phân tích thực tiễn hoạt động của các thể chế nhà nước, báo cáo này đã chỉ ra rằng, cho dù trong bối cảnh thực tiễn rất đa dạng và phong phú, nhưng các nhà nước hợp lý, hiệu quả đều có những đặc điểm chung. Một là, các chính phủ hiệu quả đã đặt ra các quy tắc cụ thể làm cơ sở, nền tảng cho hoạt động của khu vực tư nhân và rộng hơn là hoạt động của xã hội dân sự. Hai là, bản thân các chính phủ đó cũng tuân thủ các quy tắc và hành động một cách đáng tin cậy, bảo đảm quan hệ công - tư hòa hợp và có cơ chế kiểm soát được tham nhũng.
Tác phẩm The Role of the State in Economic Change (Vai trò của nhà nước đối với sự thay đổi kinh tế) của Ha-Joon Chang và Robert Rowthorn [110] đã luận 9 giải rằng, vai trò của nhà nước chiếm vị trí trung tâm trong sự phát triển kinh tế và là một trong những vấn đề gây tranh cãi nhất của các nhà kinh tế hiện đại và kinh tế chính trị. Những năm sau chiến tranh ngay lập tức xuất hiện các lý thuyết kinh tế theo hướng sử dụng quyền lực của nhà nước vào việc kiểm soát các hoạt động kinh tế. Xu hướng này trở nên phổ biến bởi nhu cầu cấp thiết cho việc tái thiết đất nước và phát triển ở các nước tư bản phát triển cũng như các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu và châu Á. Trọng tâm của lý thuyết này nhằm đề cao tính hiệu quả của sự can thiệp nhà nước vào việc thúc đẩy sự thay đổi kinh tế.
Các tác giả giải thích sự vỡ mộng ngày càng tăng về chủ nghĩa Tự do mới. Tuy nhiên, cuối cùng họ nhận thấy rằng, không phải ở mọi nơi và mọi lúc, trên mọi lĩnh vực, sự can thiệp của nhà nước cũng đều mang lại hiệu quả. Và tương tự, thuyết thị trường tự do cũng vậy, cũng có những hạn chế nhất định. Do đó, việc tìm kiếm các giải pháp tối ưu nên tập trung vào sự kết hợp hợp lý của cả hai phương án trên và tùy thuộc vào từng điều kiện, bối cảnh cụ thể của thời đại cũng như của từng quốc gia, dân tộc.
Tiếp nối quan điểm này, Ha-Joon Chang, trong tác phẩm Globalization, Economic Development and the Role of the State (Toàn cầu hóa, phát triển kinh tế và vai trò của nhà nước) [108], đã đánh giá một cách xác đáng về vai trò của nhà nước đối với nền kinh tế thi trường và sự phát triển. Từ việc phân tích các lý thuyết và sự can thiệp thực tế của các nhà nước đối với sự phát triển trong hơn hai thế kỷ của chủ nghĩa tư bản hiện đại, ông đã phát triển một phương pháp tiếp cận thể chế về vai trò của nhà nước trong phát triển kinh tế thông qua việc phân tích các chiến lược, chính sách công nghiệp, chính sách thương mại, quyền sở hữu trí tuệ, v.v… Đặc biệt là, ông đã kết nối lý thuyết tiếp cận thể chế với các trường hợp lịch sử cụ thể như là những minh chứng cho sự cần thiết phải có vai trò của nhà nước trong phát triển kinh tế. Tác phẩm The Origins of Power, Prosperity, and Poverty - Why Nations fail (Nguồn gốc của quyền lực, thịnh vượng và nghèo đói - Tại sao các quốc gia thất bại) của Daron Acemoglu và James A. Robinson [13] bàn về vai trò của nhà nước đối với nền kinh tế.
Daron Acemoglu và James Robinson lập luận rằng: Sở dĩ có quốc gia thành công, ngày càng thịnh vượng và có quốc gia thất bại, không cải thiện được đáng kể tình trạng nghèo nàn, là do sự khác biệt chủ yếu về thể chế (cả thể chế kinh tế và thể chế chính trị). Các tác giả cho rằng, về cơ bản có thể chia thể chế kinh tế thành 2 loại khác biệt nhau: Một là, thể chế kinh tế có tính dung hợp (Inclusion economic institution): có đặc điểm là khuyến khích mọi thành phần trong xã hội 10 tham gia vào các hoạt động kinh tế, cho họ cơ hội phát huy tài năng và cống hiến. Quyền lực được chia sẻ rộng rãi. Để làm được như vậy, xã hội cần phải đảm bảo quyền sở hữu, luật pháp không thiên vị và cung cấp các dịch vụ công cho mọi tầng lớp để đảm bảo sự công bằng trong quá trình trao đổi, giao dịch.
Ngoài ra, xã hội cũng cần khuyến khích sự phát triển của các doanh nghiệp mới và cho mọi người cơ hội lựa chọn ngành nghề của họ. Hai là, thể chế kinh tế có tính chiếm đoạt (Extractive economic institution): tập trung quyền lực vào một số ít người hoặc nhóm lợi ích. Các nhóm lợi ích này nắm phần lớn tài sản quốc gia và khai thác tài nguyên của đất nước. Các nhóm lợi ích trong môi trường thể chế này thường chống lại sự phát triển của các thể chế kinh tế có tính dung hợp vì thể chế đó đe dọa sự tồn tại và lợi ích của họ.
Đó cũng là lý do vì sao một khi kiểu thể chế kinh tế có tính chiếm đoạt đã hình thành thì rất khó để thay đổi, bởi lẽ ai cũng muốn bảo vệ lợi ích của mình, nhất là khi lợi ích đó rất lớn.