phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com NỘI DUNG CHƢƠNG 1: MỘT SỐ KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT LÔGICH-LỊCH SỬ VÀ NỀN KINH TẾ THỊ TRƢỜNG ĐỊNH ĐƢỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM 1. Một số khái quát chung về nguyên tắc thống nhất lôgich-lịch sử 1. Một số khái niệm cơ bản Nguyên tắc thống nhất lôgich-lịch sử là một trong những nguyên tắc phương pháp luận cơ bản của phép biện chứng.
Việc nắm vững nguyên tắc này giúp cho nhận thức con người có thể tiến sâu vào tầng bậc bản chất của đối tượng, thấy ra những vấn đề có tính quy luật trong sự tồn tại, vận động, và phát triển của đối tượng. Để tìm hiểu và nắm được những nội dung cơ bản của nguyên tắc thống nhất lôgich-lịch sử, thì chúng ta cần hiểu rõ nội hàm những khái niệm căn bản liên quan đến nguyên tắc này. Khái niệm lịch sử, cái lịch sử và phương pháp lịch sử. Theo tiếng Hy lạp cổ từ istorija được dịch nghĩa là lịch sử.
Lúc đầu lịch sử dùng để chỉ những sự kiện diễn ra trong đời sống tự nhiên và xã hội. Theo cách quan niệm này thì quan niệm về lịch sử rất dễ đồng nhất với khái niệm vật chất, vì chúng đều là là thực tại khách quan được xét đến trong quá trình phát triển. Dần dần phạm trù “lịch sử”, trong sự vận động của nó, không ngừng đổi mới nội dung và mở rộng nghĩa hơn. Lúc này, lịch sử được hiểu là: khoa học về sự vận động, phát triển của xã hội nói chung, là những gì đã từng xảy ra trong quá khứ; dùng để chỉ sự phát triển hiện thực trong biểu hiện của mọi khách thể mang tính sự kiện nói riêng.
Theo đó, thì ngoại diên của khái niệm lịch sử bao hàm cả lịch sử của tư duy. Tức là phải thừa nhận tư duy và tư tưởng cũng có lịch sử cho dù lịch sử đó xét đến cùng nó cũng bị phụ thuộc vào sự phát triển của tồn tại. Là một bộ phận trong khái niệm lịch sử nên lịch 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sử của tư tưởng cũng có tính khách quan, nhưng không phải khách quan theo nghĩa bản thể luận mà là khách quan theo nghĩa nhận thức luận. Hiện nay, khái niệm lịch sử dùng để chỉ quá trình phát triển thực tế, của toàn bộ hiện thực và nhận thức về hiện thực, với những hình thức biểu hiện phong phú, đa dạng, cụ thể, với toàn bộ các mối liên hệ cụ thể của nó tồn tại trong không gian và thời gian xác định.
Và dù là lịch sử xã hội hay lịch sử tự nhiên thì đều là “lịch sử tự nó”, luôn luôn tồn tại khách quan độc lập với ý thức của con người, nhưng lại được con người nhận thức và biến đổi theo quy luật để phục vụ cho cuộc sống con người. Như vậy, có sự khác biệt giữa phạm trù lịch sử và phạm trù vật chất. Điểm khác biệt giữa chúng là, phạm trù lịch sử không chỉ lột tả được nội dung phát triển của thế giới khách quan (vật chất) mà còn thấy được sự vận động và phát triển không ngừng trong lĩnh vực tư duy, nhận thức và ý thức con người phản ánh về hiện thực khách quan. Còn phạm trù vật chất chỉ dùng để chỉ một thực tại khách quan đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác chép lại, phản ánh lại và không phụ thuộc vào cảm giác của con người.
Nói cách khác, cái lịch sử không đơn thuần là vật chất trong sự phát triển, và vì cả tồn tại và tư duy đều vận động và phát triển triển không ngừng, bởi vậy đều có tính lịch sử [xem 22; 98]. Khái niệm lịch sử mà chúng ta nghiên cứu ở đây liên quan đến hai đối tượng, hai lĩnh vực nhận thức: thứ nhất là lịch sử nói chung của hiện thực khách quan, tức là lịch sử được hiểu như một quá trình phát triển thực tế chung; sinh thành, phát triển và diệt vong của đối tượng; thứ hai là lịch sử của nhận thức tư tưởng tư duy của con người, đặc biệt là lịch sử của khái niệm. Từ đó thấy được, lịch sử được tồn tại như một quá trình, trong cả tự nhiên, xã hội và tư duy [ 22; 98]. Như vậy, nếu khái niệm lịch sử dùng để chỉ mọi quá trình phát triển thực tế của hiện thực thì khái niệm cái lịch sử lại được hiểu là lịch sử được 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhận thức.
Đây là phạm trù thuộc về tư tưởng; tức là “cái lịch sử được hiểu là một phạm trù dùng để chỉ sự phát triển của hiện thực được nhận thức“ [22; 99 ]. Do đó tự nhiên, xã hội và tư duy – một khi trở thành đối tượng xem xét của nhận thức (lôgich) thì đều thể hiện như là cái lịch sử với tư cách là cái lịch sử. Nói cách khác, khi chuyển các đối tượng nghiên cứu (các sự vật, hiện tượng) đã thâu tóm được tính quy định lịch sử phổ biến được khái quát thành lý luận đó chính là phạm trù cái lịch sử. Lúc này, lịch sử không phải là lịch sử “tự nó” mà lịch sử được xét trong mối quan hệ với nhận thức.
Ví dụ, cùng một nhân vật lịch sử chúng ta có nhiều cách đánh giá khác nhau, do quá trình nhận thức, đánh giá của mỗi người là khác nhau. Tuy nhiên, sự nhận thức có thể khác nhau nhưng cũng phải luôn tuân thủ tính khách quan khi phản ảnh về hiện thực. Điều này làm nên tính đặc thù của phương pháp lịch sử. Phương pháp lịch sử được rút ra từ phạm trù “cái lịch sử” như là một nguyên tắc nhận thức của lô gích học biện chứng.
Phương pháp lịch sử như là sự ứng dụng cụ thể của phương pháp logic đối với những đối tượng cụ thể nào đó. Phương pháp lịch sử yêu cầu nhận thức: thứ nhất là phải phản ánh lịch sử trong quá trình sinh thành, vận động, biến đổi và phát triển. Thứ hai phải bám sát đối tượng theo thời gian để tái hiện nó trong tính muôn vẻ, bề ngoài, ngẫu nhiên và cụ thể của chúng. Trong phương pháp lịch sử, các lý thuyết cũ bị phê phán bằng cách so sánh với chính những sự kiện đã được xác định về mặt lịch sử và các lý thuyết mới được xuất hiện trong lịch sử bằng con đường nhận thức và khái quát hoá chúng.
Ưu điểm của phương pháp lịch sử là: có thể phản ánh đối tượng một cách cụ thể, sinh động nhất vì sự mô tả đối tượng luôn dựa trên việc bám sát vào các sự kiện và tiến trình lịch sử để phản ánh. Nhược điểm của phương pháp lịch sử là: dễ sa vào tiểu tiết, mô tả cảm tính, khó thấy được bản chất, tính quy luật của lịch sử. Ví dụ, khi nghiên cứu quá trình biến đổi tư tưởng 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Việt Nam, cần phải bám vào diễn biến thời gian để nắm được quá trình phát sinh, phát triển và biến đổi của tư tưởng Việt Nam qua các thời kỳ (đó là việc sử dụng phương pháp lịch sử). Nhưng quá trình nhận thức không chỉ dừng ở đó, việc bám theo sự vận động của đối tượng để nhận thức phải đồng thời từ đó rút ra được bản chất, tính quy luật của tiến trình lịch sử để có những khái quát mang tính tổng thể nhất, chung nhất và đầy đủ nhất.
Điều này cần sự bổ sung của một phương pháp khác. Đó chính là phương pháp lôgich. Khái niệm lôgich, cái lôgich và phương pháp lôgich Theo nghĩa chung nhất, thuật ngữ lôgich dùng để chỉ tính quy luật, tính tất yếu trong quá trình tồn tại, vận động, biến đổi, phát triển của sự vật, hiện tượng, hay quá trình. Đó có thể là lôgich của hiện thực (lôgich khách quan) hay lôgich của nhận thức, tư duy (lôgich chủ quan).
Nếu quan niệm lịch sử là sự phát triển của đối tượng trong quá trình với những biểu hiện phong phú, bề ngoài, hiện tượng trong thời gian và không gian cụ thể thì lôgich: “Chính là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình lịch sử, liên kết các sự kiện, các mặt dường như tách biệt thành một chỉnh thể toàn vẹn” [22; 15] Như vậy, lôgich là cái được lẩy ra từ lịch sử, là tính quy luật của lịch sử, là cái sẽ chi phối toàn bộ quá trình phát triển, biến đổi của lịch sử. Chẳng hạn lôgich của sự sống là phải thông qua quá trình trao đổi chất. Tính quy luật này bao hàm trong nó tất cả những biểu hiện sinh động của quá trình trao đổi chất rất khác nhau ở các loài và cá thể sinh học khác nhau. Đối với khái niệm cái lôgich cũng có nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm này.
Trong đó có hai loại quan điểm chủ yếu, nhóm quan điểm thứ nhất cho rằng, cái lôgich tồn tại cả trong lĩnh vực tinh thần và trong hiện thực khách quan (lôgich khách quan) như một số tác giả: Grushin V. X theo họ, bản thân sự phát triển hiện thực của khách thể đã hàm chứa cái lôgich từ ngay trong bản thân nó, cái lôgich đó 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hoàn toàn mang ý nghĩa khách quan rồi từ đó mới quy định nên sự nhận thức về tính khách quan đó. Nhóm quan điểm thứ hai lại cho rằng, cái lôgich là khái niệm chỉ đặc trưng riêng trong lĩnh vực tinh thần, quan điểm này dường như có sự tương đồng với cách hiểu của Hêghen về lôgich; cái lôgich lúc này được hiểu là sự phản ánh lý luận về cái lịch sử, nó là “hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan” [ 11, 19]. P cho rằng “cái lôgich là dùng để chỉ mối liên hệ xác định, tất yếu của các tư tưởng (khái niệm, phán đoán), phản ánh thế giới khách quan vào trong nhận thức của con người dưới dạng các hình ảnh tinh thần”.
A cho rằng “cái lôgich là sự phản ánh khái quát cái lịch sử”. Tác giả Lê Hữu Nghĩa thì cho rằng, không nên đồng nhất cái lôgich với tư duy, nhưng cái lôgich lại không tách rời tư duy trừu tượng, đó là sự biểu đạt mối liên hệ tất yếu trong sự phát triển của tư duy trừu tượng: cái lôgich là sự tiếp nối nhất định, tất yếu của các khái niệm, phán đoán, phản ánh thế giới khách quan trong ý thức con người dưới dạng các hình ảnh tư tưởng [30, 19 - 20].