Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp lý của nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự. Chương 2: Nội dung nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự. Chương 3: Hoàn thiện nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA NGUYÊN TẮC BẢO ĐẢM PHÁP CHẾ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG CỦA NGUYÊN TẮC BẢO ĐẢM PHÁP CHẾ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ. Nguyên tắc cơ bản và vị trí của nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự. Trong tố tụng hình sự nói riêng và các ngành luật khác nói chung đều được điều chỉnh bởi các nguyên tắc cơ bản, đặc thù. Tuy nhiên, cho đến hiện nay, vẫn chưa có một khái niệm chung về nguyên tắc cơ bản.
Vì vậy, tuỳ thuộc cách hiểu của các nhà nghiên cứu, các luật gia, các nhà áp dụng pháp luật chứ nguyên tắc cơ bản không hề được pháp điển hoá trong văn bản pháp luật. Nguyên tắc cơ bản trong tố tụng hình sự là những phương châm, định hướng chi phối tất cả hoặc một số hoạt động tố tụng hình sự được các văn bản pháp luật quy định. Như vậy, xét về chi tiết vấn đề thì nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự bao gồm các yếu tố: Thứ nhất, các nguyên tắc gọi là cơ bản khi có tính chất điều chỉnh vĩ mô thể hiện ở phương châm, định hướng, tư tưởng chung của ngành luật tố tụng hình sự; Thứ hai, các nguyên tắc cơ bản chi phối tất cả hoặc chỉ điều chỉnh một giai đoạn hoặc một số hoạt động nhất định của tố tụng hình sự mà không phải toàn bộ quá trình tố tụng hình sự; Thứ ba, một yếu tố pháp lý không thể thiếu cho sự tồn tại của các nguyên tắc cơ bản là nó phải được ghi nhận trong các văn bản pháp luật mà cụ thể là Bộ luật tố tụng hình sự 2003. Thông qua một khái niệm ngắn gọn đã chỉ ra được bản chất pháp lý của nguyên tắc.
Đứng về góc độ luật thực định khái niệm này tương đối phù hợp 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com so với các quan điểm pháp lý khác. Nhưng cũng có ý kiến cho rằng, cách hiểu này không hợp lý về mặt lý luận cho dù nó đúng ở thực tiễn nên vẫn không được chấp nhận hoàn toàn. Đã gọi là nguyên tắc cơ bản thì không thể nào có giá trị điều chỉnh chi phối “một số” hoạt động tố tụng hình sự mà phải là toàn bộ quá trình tố tụng. Điều này mới bảo đảm tính khái quát, tính điều chỉnh cao nhất của nguyên tắc cơ bản.
Tuy nhiên, các khái niệm đưa ra chỉ mang tính chất tham khảo vì nó phải được rút ra từ thực tiễn quy định của pháp luật. Rõ ràng trong Bộ luật tố tụng hình sự 2003, các nguyên tắc cơ bản được điều chỉnh tại chương 2 đã bao gồm cả nguyên tắc điều chỉnh chung và cả những nguyên tắc chỉ điều chỉnh một số giai đoạn tố tụng hình sự cụ thể như nguyên tắc xét xử có Hội thẩm Nhân dân, nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật… Hơn nữa, trong Bộ luật tố tụng hình sự 2003 quy định tới 30 nguyên tắc cơ bản. Quy định này là không cần thiết vì nó không thể hiện được tính khái quát, cô đúc và ngắn gọn trong các văn bản pháp luật. Nhiều nguyên tắc đã được quy định trong Hiến pháp và văn bản pháp luật khác, nhiều nguyên tắc trùng lặp nhau dẫn đến sự dài dòng của văn bản.
Ví dụ như nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật. Nguyên tắc này đã được thể chế hoá trong Hiến pháp, Bộ luật tố tụng hình sự 2003 quy định như vậy làm giảm tính hiệu lực và tầm thường hoá các quy phạm Hiến pháp. Những nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự là tư tưởng chủ đạo xuyên suốt mọi hoạt động tố tụng hình sự. Vì thế, các nguyên tắc cơ bản không những định hướng cho hoạt động tố tụng hình sự mà định hướng cho cả việc xây dựng pháp luật.
Trên phương diện những giá trị hiện thực đạt được, các nguyên tắc cơ bản của Luật tố tụng hình sự đảm bảo quá trình tố tụng được tiến hành thống nhất với phương châm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân tham gia tố tụng cũng như nâng cao vai trò, trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước trong đấu tranh phòng và chống tội phạm. Việc tác động đến thực tiễn có ảnh hưởng lớn đến sửa đổi, bổ sung, ban hành mới văn bản 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com pháp luật nên các nguyên tắc cơ bản mang cả ý nghĩa pháp lý khi mọi hoạt động xây dựng pháp luật đều phải dựa trên các nguyên tắc này. Tố tụng hình sự là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam nên chịu sự điều chỉnh bởi các nguyên tắc chung của pháp luật như nguyên tắc: bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa, mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật…Đồng thời, vì là một ngành luật đặc thù nên nó còn bị chi phối bởi các nguyên tắc riêng như nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo (Điều 11- Bộ luật tố tụng hình sự). Cũng có nhiều cách phân chia nguyên tắc cơ bản theo các nhóm khác nhau để thuận tiện cho nghiên cứu và áp dụng pháp luật trong thực tiễn.
Nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự được nghiên cứu dưới góc độ vừa cơ bản, vừa đặc thù so với các ngành luật khác. Nguyên tắc bảo đảm pháp chế trong tố tụng hình sự được quy định tại Điều 3- Bộ luật tố tụng hình sự 2003- Điều đầu tiên của Chương 3 cũng là hợp lý. Đây là nguyên tắc bao trùm nhất thể hiện trong tất cả các giai đoạn tố tụng hình sự, là cơ sở của các nguyên tắc khác vì suy cho cùng việc tôn trọng và bảo vệ pháp luật là mục đích cao nhất của hiệu quả điều chỉnh pháp luật và cũng là điều chúng ta đang hướng tới trong việc xây dựng Nhà nước Pháp quyền và xã hội công dân. Bảo đảm pháp chế là nhiệm vụ của hoạt động tố tụng hình sự.
Tố tụng hình sự là hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án nhằm xác định rõ hành vi phạm tội và người phạm tội bằng trình tự, thủ tục luật định. Mỗi thời kỳ lịch sử khác nhau thì tố tụng hình sự cũng khác nhau từ cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đến các bước tiến hành tố tụng. Đối với tố tụng hình sự phong kiến, không có sự phân chia các giai đoạn tố tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng mà trình tự, thủ tục giải quyết vụ án do một người có thẩm quyền hành chính xét xử, quyền xét xử tối cao nhất thuộc về nhà vua. Vì thế, trong các triều đại phong kiến oan ức xảy ra nhiều 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com do lối hành xử chủ quan, duy ý chí của một người.
Hơn thế, trong quá trình giải quyết vụ án không có sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ nên vi phạm tố tụng phổ biến mà ngay bản thân các quan toà cũng không thể nhận thức được. Một vị quan nắm giữ trong tay cả quyền hành pháp và tư pháp thì không thể vô tư và khách quan khi xét xử. Tuy nhiên, luật tố tụng cũng được pháp điển hóa, thành văn trong thời nhà Lê, Nguyễn nhằm nâng cao và quy kết trách nhiệm của các quan tòa cũng như cơ sở để nhà vua xem các quan có hoàn thành chức trách, nhiệm vụ của mình không (Quốc triều khám tụng điều lệ). Trong luật tố tụng hình sự hiện đại, vụ án được giải quyết trên cơ sở luật định về thẩm quyền, chức năng của từng cơ quan.
Vì vậy, tố tụng hình sự có những đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhất, tố tụng hình sự là trình tự giải quyết vụ án từ khi khởi tố cho đến khi kết thúc thi hành án bằng việc chứng minh hành vi phạm tội của bị can, bị cáo qua các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án. Như vậy, tố tụng hình sự là hoạt động mang tính chất Nhà nước nhằm kết luận một người có tội hay không có tội trên cơ sở thu thập, đánh giá các chứng cứ một cách hợp pháp của cơ quan tiến hành tố tụng qua các giai đoạn tố tụng cụ thể theo quy định của pháp luật và giai đoạn trước là tiền đề cho giai đoạn sau. Chỉ cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền với chức năng riêng biệt mới được tiến hành hoạt động tố tụng hình sự, mỗi hoạt động tố tụng hình sự đều được kiểm tra, giám sát để đảm bảo tính chính xác và đúng đắn. Qua đây, chúng ta cũng thấy được điểm khác của tố tụng hình sự so với tố tụng dân sự và tố tụng hành chính.
Mặc dù tố tụng dân sự và tố tụng hành chính cũng được tiến hành theo những trình tự, thủ tục nhất định nhưng vai trò của các cơ quan tiến hành tố tụng rất khác nhau. Trong hai lĩnh vực này không có sự tham gia của Cơ quan điều tra mà vai trò chủ yếu là Tòa án. Viện kiểm sát cũng đóng vai trò giám sát việc tuân theo pháp luật trong toàn bộ hoạt động tố tụng nhưng không trực tiếp kiểm sát điều tra như trong tố tụng hình sự mà chỉ 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trên cơ sở nghiên cứu hồ sơ và tham gia phiên toà khi đương sự khiếu nại về việc Toà án điều tra không khách quan. Thứ hai, hoạt động tố tụng hình sự tuân theo những nguyên tắc chung và những quy phạm pháp luật cụ thể theo Hiến pháp, Bộ luật tố tụng hình sự 2003 và một số văn bản pháp luật có liên quan khác.
Đặc điểm pháp lý này cho phép khẳng định rằng tố tụng hình sự là hoạt động tuân thủ pháp luật về việc tìm ra các tình tiết, chứng cứ, sự kiện của vụ án phù hợp với yêu cầu, đòi hỏi của các văn bản pháp luật do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành. Các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án phải chứng minh bằng những chứng cứ khách quan, toàn diện và hợp pháp.