mở đầu, luận văn đƣợc viết theo trình tự sau: Chƣơng 2 điểm qua một số nghiên cứu đã có về học thêm. Chƣơng 3 trình bày về số liệu khảo sát. Chƣơng 4 trình bày kết quả nghiên cứu. Chƣơng 5 nêu một số gợi ý chính sách và chƣơng 6 là kết luận.
123doc 5 CHƢƠNG 2. ĐIỂM QUA CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC Vì học thêm là hoạt động không chính thức và những ngƣời tham gia hoạt động này thƣờng e ngại cung cấp thông tin nên thông tin về chủ đề này là rất hiếm. Dù vậy vẫn có nhiều nghiên cứu ở khắp nơi trên thế giới cho thấy bối cảnh chung của tình hình học thêm: học thêm không chỉ tồn tại ở Việt Nam hay ở những nƣớc đang phát triển mà còn xuất hiện ở rất nhiều nƣớc có những đặc điểm rất khác nhau về địa lý và trình độ kinh tế nhƣ Canada, Cam-pu-chia, Ai cập, Hy lạp, Nhật Bản, Kê-nya, Singapore, Đài Loan, Morocco, Rumania, Anh, Mỹ, Zimbabue. Đặc biệt hiện tƣợng học thêm phát triển mạnh ở các quốc gia Đông Á (Bray M, 2007, 24-25).1 Qui mô của hiện tƣợng học thêm 123doc 6 Bảng 2-1: Tình hình học thêm khảo sát ở một số quốc gia Quốc gia Tình hình học thêm Nguồn 2003, 72,6% học sinh tham gia học thêm.
Chi tiêu về học thêm trong năm 2003 ƣớc lƣợng vào khoảng 12,4 tỉ USD, tƣơng đƣơng Lee C. J, 2005 Hàn quốc với khoảng 56% ngân sách quốc gia về giáo dục. Tính trung bình, hộ gia đình Hàn Quốc chi tiêu khoảng 10% thu nhập của họ cho việc học thêm. 2003, điều tra 630 học sinh trung học, có 48,8%học sinh có tham Hồng Kông Bray M, Kwok P, 2003 gia học thêm.
2000, khảo sát 31 000 học sinh ở 2000 trƣờng học, có 10,9 học Canada Bray M, Kwok P, 2003 sinh 13 tuổi và 13,3 học sinh 16 tuổi có học thêm Theo VLSS 1997-1998, 34 có con đi học cho con đi học thêm Việt Nam và 90% trong số đó chi từ 1 đến 5% tổng chi tiêu của hộ gia đình Dang Hai Anh, 2007 cho học them Việt Nam, 2004, khảo sát học sinh ở 38 trƣờng phổ thông trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, có khoảng 84,6 gia đinh ở nội thành cho con Kim Liên, 2004 TP HCM đi học thêm. 2006, Có 43% thành viên hộ gia đình đang đi học có học thêm trong, trong đó 68 học thêm tại trƣờng đang học và 28 % học Tổng cục thống kê Việt Nam thêm tại nhà ngƣời dạy. Tỷ lệ này cao hơn tại các hộ giàu và các 2006 hộ thuộc khu vực thành thị. 2008, khảo sát với 480 HS cấp THCS và THPT (năm trƣờng THCS và ba trƣờng THPT công lập) trải rộng trên địa bàn các Việt Nam, quận 3, 9, Tân Bình, Bình Thạnh và Gò Vấp, 66,2 HS đã bắt đầu Minh Tiến, 2008 TP HCM đi học thêm từ khi vào học THCS, chi phí trung bình cho việc học thêm của một HS là 326.474 VND/tháng, trong đó cấp THCS là 287.024 VND và cấp THPT là 391.2 Các yếu tố ảnh hƣởng đến nhu cầu học thêm Nghiên cứu định lƣợng của Đặng Hải Anh (Dang Hai Anh, 2007) và một số nghiên cứu khác đã chỉ ra một số các yếu tố ảnh hƣởng (có ý nghĩa) đến nhu cầu học thêm của học sinh, bao gồm: 2.1 Các yếu tố vi mô Tất cả các nghiên cứu đều cho thấy thu nhập hộ gia đình và trình độ học vấn của cha mẹ càng cao thì nhu cầu học thêm càng lớn.
Nhu cầu học thêm ở thành thị lớn hơn ở nông thôn. Kích cỡ hộ gia đình cũng là một yếu tố ảnh hƣởng tới nhu cầu học thêm. Ngày nay, khi số con trong gia đình càng ít thì thông thƣờng sự quan tâm và kỳ vọng của cha mẹ đối với con cái càng lớn, điều đó khiến cho nhu cầu học thêm có xu hƣớng gia tăng. Một số nghiên cứu cho thấy ảnh hƣởng của Nho giáo, lòng hiếu học và kỳ vọng vào suất sinh lợi cao của giáo dục cũng làm gia tăng nhu cầu học thêm.2 Các yếu tố vĩ mô Ngày nay, rất nhiều nền kinh tế đang có sự chuyển dịch sang nền kinh tế thị trƣờng.
Bối cảnh đó tạo ra một thị trƣờng lao động mà suất sinh lợi của học tập cao hơn hẳn ở những bậc học cao, dẫn đến cạnh tranh khốc liệt để học lên. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng điều đó khiến cho nhu cầu học thêm để tìm kiếm cơ hội học lên tăng cao. Bên cạnh đó, ở những quốc gia mà chất lƣợng của hệ thống giáo dục công lập còn yếu kém, lƣơng giáo viên thấp cùng với việc quản lý, giám sát chất lƣợng giáo dục không hiệu quả thì hiện tƣợng học thêm cũng có xu hƣớng gia tăng.3 Phản ứng của ch nh phủ các nƣớc đối với học thêm Theo các nghiên cứu, phản ứng của các chính phủ với hiện tƣợng học thêm có thể chia thành 4 nhóm (Bray M, 2007): 123doc 8 Nhóm 1 (nhƣ Campuchia, Mianma…)- cấm dạy thêm và học thêm. Thực tế cho thấy những chính phủ lựa chọn giải pháp này đều thất bại vì thể chế yếu kém không đủ năng lực áp chế và/hay gặp phải nhiều phản ứng từ các nhóm lợi ích.
Nhóm 2- Để thị trƣờng học thêm tự do phát triển, có thể vì một trong hai lí do: Một số nƣớc (nhƣ Nigeria) chính phủ lờ đi hiện tƣợng này vì tự đánh giá không có khả năng kiểm soát. Một số nƣớc (nhƣ Canada, Anh) có thể chế mạnh và năng lực kiểm soát cao, nhƣng chính phủ cho rằng hiện tƣợng học thêm không quá phổ biến và tác động không đáng kể đến phát triển kinh tế nên không cần thiết phải can thiệp. Nhóm 3 (nhƣ Hồng Kông, Trung Quốc, Việt Nam…)- Chính phủ nhận thức rằng học thêm là vấn đề lớn cần quan tâm, tiến hành kiểm soát hoạt động học thêm thông qua các quy định về đối tƣợng, nội dung, giá trần… Nhóm 4 (nhƣ Singapore) - Chủ động thúc đẩy học thêm vì cho rằng học thêm đóng góp quan trọng trong việc phát triển vốn con ngƣời và việc học thêm đáp ứng đƣợc nhu cầu của từng đối tƣợng học sinh một cách hiệu quả. Dựa vào thông tin từ các nghiên cứu trƣớc, ngƣời viết có một cái nhìn bao quát hơn về hiện tƣợng học thêm trên thế giới, từ đó đặt hiện tƣợng học thêm ở Việt Nam trong một bối cảnh chung.
Đồng thời ngƣời viết cũng nhận thấy những điểm khác biệt của hiện tƣợng này ở Việt Nam so với thế giới. Phƣơng pháp nghiên cứu đƣợc thiết kế trên cơ sở học hỏi một số nghiên cứu trƣớc nhƣ nghiên cứu của Bray M và Kwok P năm 2003 ở Hồng Kông. 123doc 9 CHƢƠNG 3. SỐ LIỆU KHẢO SÁT 3.1 Định nghĩa học thêm Trong nghiên cứu này, học thêm đƣợc định nghĩa là việc học các môn học trong chƣơng trình chính khóa, ngoài thời gian học chính thức trong nhà trƣờng, không bao gồm việc học thêm đƣợc tổ chức đồng loạt cho tất cả học sinh theo kế hoạch chung của nhà trƣờng.2 Thành phố Quy Nhơn Thành phố Quy Nhơn là đô thị loại I trực thuộc tỉnh Bình Định với diện tích 216,4 km2, dân số 255.100 ngƣời, trong đó nữ 130.
GDP bình quân đầu ngƣời năm 2009 của thành phố đạt 26,9 triệu đồng (Thái Ngọc Bích, 2010)1. Toàn thành phố có 8 trƣờng THPT, số học sinh THPT cuối năm học 2008-2009 là 11. Trong đó hệ trƣờng chuyên có 823 học sinh, hệ trƣờng công lập có 4.984 học sinh và hệ trƣờng ngoài công lập có 5.3 Mô tả mẫu và phƣơng pháp tiến hành khảo sát Khảo sát điều tra đƣợc tiến hành tại thành phố Quy Nhơn, vào tháng 01 và tháng 02/ 2010 2. 1 So với mức bình quân cả nƣớc đạt 19,4 triệu đồng/ngƣời (chinhphu.vn, 2010), Hà Nội đạt 32 triệu đồng/ngƣời (Nguyễn Hƣng, 2009) và thành phố Hồ Chí Minh đạt hơn 46,3 triệu đồng/ngƣời (Báo Thƣơng mại, 2010).
2 Đây là lúc học sinh vừa có kết quả học tập học kỳ 1, do đó có thể có những nhận xét xác thực hơn về ảnh hƣởng và tác dụng của học thêm. Đây cũng là lúc mà hoạt động học tập và giảng dạy tƣơng đối nhẹ nhàng so với các thời điểm khác trong năm học do đó giáo viên và học sinh có thể nhiệt tình hơn trong việc tham gia nghiên cứu. 123doc 10 Mẫu khảo sát bao gồm 504 học sinh và 73 giáo viên THPT đƣợc chọn theo phƣơng pháp phân tổ 3 tại 4/8 trƣờng THPT trên địa bàn thành phố Quy Nhơn bao gồm 1 trƣờng chuyên, 2 trƣờng công lập và 1 trƣờng công lập tự chủ tài chính 4 Ban đầu, tác giả dự định tiến hành khảo sát tại 5 trƣờng, nhƣng một trƣờng công lập tự chủ tài chính đã từ chối tham gia nghiên cứu vì e ngại những thông tin đƣợc cung cấp có thể gây ra những ảnh hƣởng bất lợi 5. Do việc từ chối này mà tỷ lệ mẫu có phần thiên lệch về phía nhóm trƣờng công.
Tại mỗi trƣờng, cán bộ nghiên cứu chọn ngẫu nhiên 3 lớp, có chú ý cân đối giữa các lớp phân ban. Riêng ở trƣờng chuyên, mẫu khảo sát chỉ chọn học sinh ở các lớp thuộc khối không chuyên với lý do rằng học sinh thuộc khối chuyên có thể học lệch hơn và có thể học thêm để chuẩn bị cho các kỳ thi học sinh giỏi. Đây không phải là mục tiêu của số đông học sinh mà nghiên cứu này muốn tìm hiểu. Tuy nhiên điều này cũng khiến cho mẫu đƣợc chọn có phần thiên lệch vì các lớp không chuyên ở trƣờng chuyên đều học theo chƣơng trình cơ bản có nâng cao 4 môn tự nhiên là toán, lý, hóa, sinh mà không học nâng cao các môn xã hội.
Ngƣời nghiên cứu cho rằng sự thiên lệch này không làm thay đổi đáng kể kết quả thống kê vì thực tế tỷ lệ học sinh học ban xã hội hay học nâng cao các môn xã hội hiện nay là rất ít, trong năm học 2008 – 2009, cả nƣớc chỉ có 1,92 học sinh lớp 10 chọn ban Xã hội (Thanh Châu, 2009) Với sự đồng ý của nhà trƣờng, cán bộ điều tra tiến hành đƣa bảng hỏi (Phụ lục 1), hƣớng dẫn cho học sinh trả lời tại lớp học và nhận lại kết quả ngay sau khi học sinh trả 3 Có thể chia học sinh THPT tại thành phố Quy Nhơn thành 3 nhóm là nhóm học trƣờng chuyên, trƣờng công lập và trƣờng ngoài công lập. Các nhóm này đƣợc chọn thông qua hai kì thi đầu vào cấp THPT là Tuyển sinh vào trƣờng chuyên và tuyển sinh vào trƣờng công lập. Các học sinh khá, giỏi ở lớp 9 có thể tham gia thi tuyển vào trƣờng chuyên.