Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ ĐÀO TẠO NGHỀ 10BIỆN PHÁP PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH TỘI PHẠM THAM NHŨNG Ở VIỆT NAM HIỆN NLUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC ĐÁP ỨNG NHU CẦU XÃ HỘI TẠI CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Nghiên cứu về ĐTN đáp ứng NCXH Việc đáp ứng nhu cầu xã hội đối với ĐTN luôn được các chuyên gia, các nhà khoa học ở trong nước và ngoài nước quan tâm nghiên cứu với hướng tiếp cận phong phú và đa dạng với nhiều góc độ khác nhau. Nghiên cứu “Vocational Training-International Perspectives” (Tạm dịch: “Đào tạo nghề-Quan điểm quốc tế”) của Gilles Laflamme (1993) [92] đã tập trung vào việc nghiên cứu quan điểm quốc tế ở một số quốc gia thành công đối với việc ĐTN hiệu quả, đảm bảo CLĐT đáp ứng NCXH như Nhật, Đức, Pháp, Mỹ.
Hai quyển chuyên khảo của Trần Khánh Đức (2002) với quyển: “Giáo dục kỹ thuật-nghề nghiệp và phát triển nguồn nhân lực” [17]; Đỗ Minh Cương và Mạc Văn Tiến (2004) với quyển: “Phát triển lao động kỹ thuật ở Việt Nam-Lý luận và thực tiễn” [12]. Hai quyển chuyên khảo là tập hợp các bài viết luận bàn về cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn, kinh nghiệm trong nước và ngoài nước về phát triển ĐTN theo hướng đáp ứng NCXH. Các bài viết trong hai quyển chuyên khảo còn luận bàn về yêu cầu phát triển nguồn nhân lực ĐTN đáp ứng NCXH đối với ĐTN ở Việt Nam. Công trình nghiên cứu của Phan Chính Thức (2003) với đề tài: “Những giải pháp phát triển đào tạo nghề góp phần đáp ứng nhu cầu nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá” [70] đã tập trung nghiên cứu về lý luận ĐTN và trên cơ sở đó tác giả đề xuất những giải pháp phát triển ĐTN đối với nhân lực cho sự nghiệp CNH, HĐH ở nước ta.
Bên cạnh đó, đề tài còn đề cập đến phương pháp dự báo nhu cầu ĐTN theo trình độ đối với các ngành kinh tế, các địa phương nhằm giúp nguồn nhân lực qua đào tạo đáp ứng tốt NCXH. Tác giả Gabor Halasz (2011) với bài viết: “Coping with Complexity and 11BIỆN PHÁP PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH TỘI PHẠM THAM NHŨNG Ở VIỆT NAM HIỆN NLUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC Instability in the UK Vocational Training System” [93] (Tạm dịch: “Đối phó với sự phức tạp và bất ổn trong hệ thống đào tạo nghề của Vương quốc Anh”) đã trình bày sự phức tạp và sự bất ổn của xã hội ngày càng tăng làm cản trở quá trình phát triển đối với nguồn nhân lực qua ĐTN, cũng như sự tham gia của các cơ sở SDLĐ tuyển dụng nhân lực qua ĐTN. Bài viết nhận định để đối phó với hiện trạng này, chính sách kỹ năng nghề của Vương quốc Anh cần xây dựng hệ thống chính sách công dựa trên các hình thức điều hành và điều chỉnh nhằm tận dụng tốt thời cơ và kịp thời ứng phó đối với thách thức của xã hội đầy biến động nhằm giúp đào tạo nghề Vương quốc Anh đáp ứng ngày càng tốt NCXH luôn thay đổi. Tác giả Nguyễn Văn Hạnh (2006) với nghiên cứu: “Đào tạo nghề ở Việt Nam trong bối cảnh lao động mới” [26] đã luận bàn về vai trò của ĐTN với yêu cầu nguồn lao động trong bối cảnh mới và đưa ra một số thực trạng về ĐTN đối với Việt Nam.
Từ đó, bài viết phân tích thách thức và những cơ hội đối với ĐTN đáp ứng NCXH trong bối cảnh mới đối với lực lượng lao động ở Việt Nam. Tác giả Phan Viết Sự (2005) đã thực hiện nghiên cứu khá toàn diện về: “Giáo dục nghề nghiệp-những vấn đề và giải pháp” [50] đã chỉ ra những vấn đề tồn tại khá phổ biến đối với ĐTN về: nội dung CTĐT, phương pháp đào tạo, đặc biệt là đội ngũ giảng viên về tác phong nghề nghiệp,. từ đó, tác giả đề xuất các giải pháp nhằm giúp cho việc ĐTN đạt chất lượng đảm bảo cho việc đáp ứng NCXH về ĐTN đối với GDNN. Đối với mô hình đào tạo song hành của Đức theo Wolf-Dictrich Grcinert (1994) với “The German System of Vocational Education” [116] (Tạm dịch: “Hệ thống giáo dục nghề nghiệp của Đức”) đã phân tích và chỉ ra những đặc điểm của ĐTN song hành đối với hệ thống GDNN, mà cụ thể là đề cập đến nội dung, cấu trúc, chính sách và phương thức phối hợp giữa ĐTN trong hệ thống GDNN với tuyển dụng công nhân kỹ thuật ở Đức theo định hướng đáp ứng NCXH về việc làm.
12BIỆN PHÁP PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH TỘI PHẠM THAM NHŨNG Ở VIỆT NAM HIỆN NLUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC Qua mô hình “Seek-Fine-Train” của GDNN Phillipine [84] cho thấy ngay từ những năm 2000, Phillipine đã xác định việc xây dựng ĐTN với 3 mục tiêu: “Tìm kiếm-Tìm thấy-Đào tạo” (“Seek-Fine-Train”) trong đó: Seek là tìm kiếm các cơ hội việc làm thông qua TTLĐ trong nước và ngoài nước; Fine là tìm thấy đúng người cho công việc; Train là đào tạo người phù hợp với công việc bằng cách sử dụng các tài liệu đạt chuẩn chất lượng được tham vấn từ các ngành công nghiệp. Với mục tiêu đào tạo nghề “Seek-Fine-Train” đã giúp ĐTN của Phillipine phù hợp với nguyện vọng và năng lực của người học, nên nguồn lao động qua ĐTN của Phillipine sau khi tốt nghiệp luôn đáp ứng tốt NCXH theo vị trí việc làm. Tác giả Giuseppe Tacconi (2015) với bài viết: “Success Stories. A View of Initial Vocational Training Through the Eyes of Former Students” (Tạm dịch: “Câu chuyện thành công.
Một cái nhìn của đào tạo nghề ban đầu thông qua con mắt của cựu sinh viên”) [114] đã nghiên cứu và đưa ra kết quả không nhằm mục đích “chứng minh” rằng ĐTN dẫn đến thành công về giáo dục, mà để xác định các điều kiện theo đó chỉ ra hiệu quả ĐTN khi đáp ứng tốt NCXH có thể thúc đẩy sự thành công về giáo dục. Lisa Sella (2014) với đề tài: “Enhancing Vocational Training Effectiveness Through Active Labour Market Policies” [111] (Tạm dịch: “Nâng cao hiệu quả đào tạo nghề thông qua các chính sách thị trường lao động tích cực”) nghiên cứu với mục đích là nhằm khám phá hiệu quả của ĐTN thông qua các chính sách TTLĐ tích cực. Nghiên cứu còn chỉ ra rằng các nhà hoạch định đối với chính sách TTLĐ nên thiết kế một chiến lược ĐTN liên kết để có cùng hướng đi thích hợp, tránh sự chênh lệch giữa ĐTN và TTLĐ sẽ giúp ĐTN đáp ứng trước mắt cũng như lâu dài NCXH.Brasilia (2016) đã tiến hành nghiên cứu về: “Effects of Vocational Training on a Group of People with Intellectual Disabilities” [96] (Tạm dịch: “Hiệu quả của việc đào tạo nghề 13BIỆN PHÁP PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH TỘI PHẠM THAM NHŨNG Ở VIỆT NAM HIỆN NLUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC đối với một nhóm người khuyết tật trí tuệ”) tập trung phân tích và chỉ ra tác động của chương trình ĐTN về hành vi thích ứng của người khuyết tật trí tuệ (Intellectual disability) đồng thời đánh giá sự tác động của xã hội đến cuộc sống của người khuyết tật trí tuệ. Thông qua nghiên cứu các tác giả đánh giá sau một năm áp dụng chương trình ĐTN thì những người khuyết tật trí tuệ đã có những tiến bộ đáng kể trong học tập, tự chủ, phát triển tình cảm và xã hội, cũng như trong quan hệ gia đình và cộng đồng.
Nghiên cứu này còn cho thấy ngoài hiệu quả ĐTN giúp cho người học có một nghề cụ thể mà còn góp phần vào sự phát triển toàn diện của con người. Đối với ĐTN của Bulgaria, mà cụ thể là ĐTN cho nhân viên xã hội được Dimitrova Preslava (2017) nghiên cứu với bài viết: “Study on the Needs of Continuing Vocational Training for Social Workers in Bulgaria” [88] (Tạm dịch: “Nghiên cứu về nhu cầu tiếp tục đào tạo nghề cho nhân viên xã hội ở Bulgaria”). Tác giả đã nhấn mạnh nghề nghiệp của nhân viên xã hội trong thời hiện đại luôn bị thách thức bởi môi trường xã hội cũng như môi trường kinh tế thay đổi, nên yêu cầu về trình độ và năng lực đòi hỏi ngày cao. Trên cơ sở nghiên cứu nhu cầu ĐTN đối với lĩnh vực công tác xã hội, tác giả đã đưa ra các khuyến nghị đối với đào tạo kỹ năng nghề cần đào tạo theo hướng cung và cầu lao động qua ĐTN thì sẽ giúp ĐTN đáp ứng được NCXH.
Tác giả Đặng Văn Thành (2009) đã thực hiện đề tài: “Phương pháp đào tạo nghề gắn với thị trường lao động ở Việt Nam” [62] đã trình bày chi tiết về cơ sở lý luận đối với phương pháp ĐTN gắn với TTLĐ đã góp phần giúp đào tạo nghề đáp ứng NCXH. Đối với tác giả Nguyễn Đức Trí (1997) với “Nghiên cứu ứng dụng phương thức đào tạo nghề theo mô đun kỹ năng hành nghề” [74] đã đưa ra cơ sở lý luận về ĐTN theo mô đun kỹ năng hành nghề, quy trình biên soạn chương trình ĐTN theo phương thức mô-đun kỹ năng thực hành nhằm linh hoạt hoá phương thức ĐTN để đáp ứng nhu cầu của người SDLĐ và của người học. Nhằm giúp nhà 14BIỆN PHÁP PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH TỘI PHẠM THAM NHŨNG Ở VIỆT NAM HIỆN NLUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC giáo tham gia ĐTN theo hướng đáp ứng NCXH, tác giả Nguyễn Minh Đường và đồng nghiệp (1994) đã biên soạn tài liệu: “Phương pháp đào tạo nghề theo mô đun kỹ năng hành nghề” [21] để bồi dưỡng nhà giáo trong các cơ sở GDNN về PPDH theo mô-đun kỹ năng hành nghề. Chủ nhiệm đề tài Nguyễn Đức Trí (1996) thực hiện đề tài cấp Bộ về: “Tiếp cận đào tạo nghề dựa trên năng lực thực hiện và xây dựng tiêu chuẩn nghề” [72] đã nghiên cứu lý luận về ĐTN dựa trên năng lực thực hiện là cần quan tâm xây là khi dựng CTĐT cần phải dựa trên tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia sẽ giúp ĐTN đáp ứng chuẩn nghề nghiệp theo NCXH.
Đối với Hàn Quốc được UNSECO (1994) nghiên cứu với: “Technical and Vocational Education in Republic of Korea” [103] (Tạm dịch: “Giáo dục kỹ thuật và dạy nghề ở Hàn Quốc”) đã nêu lên đặc trưng giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp ở Hàn Quốc về dạy nghề như: chương trình; các môn học; sự phân bổ thời gian học giữa lý thuyết và thực hành hợp lý đối với ĐTN ở các trường dạy nghề của Hàn Quốc luôn sát với thực tế nên đã giúp cho ĐTN ở Hàn Quốc luôn đáp ứng tốt NCXH là gắn ĐTN với việc làm.