Chương 1: TỔNG QUAN 1. Người cao tuổi và tình hình già hóa dân số 1. Khái niệm người cao tuổi và một số đặc điểm ở người cao tuổi Lão hóa hay già đi là sự thay đổi sinh học xảy ra theo tuổi tác một cách tự nhiên và không bị ảnh hưởng bởi bệnh tật và ảnh hưởng của môi trường. Không phải tất cả những thay đổi do lão hóa đều có tác động xấu đến sức khỏe.
Tuy nhiên quá trình diễn ra lão hóa lại bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi các tác động của các yếu tố môi trường, lối sống và bệnh tật. Sự thật thì lão hóa tự nhiên không thể nào tách rời khỏi các yếu tố này. Vì vậy WHO đã định nghĩa sự lão hóa là sự suy giảm chức năng tiến triển, tổng quát dẫn đến mất phản ứng thích ứng với căng thẳng và làm tăng nguy cơ mắc bệnh liên quan đến tuổi tác [71]. Hiện tại thì khái niệm người già hay người cao tuổi thường được định nghĩa theo mốc thời gian.
Liên Hợp Quốc đã thống nhất chọn mốc từ 60 tuổi trở lên để chỉ người cao tuổi để dễ dàng so sánh dữ liệu giữa các quốc gia, trong khi đó WHO chọn mốc từ 65 tuổi trở lên [71]. Đối với nhiều nước đang phát triển, tuổi già sẽ đi kèm với bệnh tật và tàn tật, kết quả của cuộc sống nghèo đói, ít hoặc không được chăm sóc sức khỏe đầy đủ, thì nhiều người đã ‘già’ về mặt chức năng ở độ tuổi bốn mươi và năm mươi. Đối với những người lớn tuổi ở các nước đang phát triển, sức khỏe cá nhân luôn được đi cùng với an ninh vật chất và là mối quan tâm ưu tiên vì vậy “già” về mặt chức năng ở những người ở đây có thể muộn hơn so với những nước đang phát triển. Điều này đặt câu hỏi về sự liên quan của các định nghĩa theo mốc thời gian của tuổi già.
Một số quốc gia định nghĩa về tuổi già dựa trên tuổi nghỉ hưu chính thức tuy nhiên điều này không phù hợp với một số nước châu Phi vì rất ít người tham gia lao động chính thức với các điều khoản hưu trí phù hợp. Ngoài Nam Phi và Namibia thì ở hầu hết các nước châu Phi, “nghỉ hưu” là độ tuổi mà tuổi tác hoặc sức khỏe yếu khiến cho họ không thể hoạt động được. Vì vậy các thuật ngữ như tuổi già, cao tuổi hay lớn tuổi. vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất và do đó nó là một khái niệm sẽ khác nhau tùy theo từng cá nhân, bối cảnh nền văn hóa, quốc gia và thậm chí là giới tính.
Ở trong bối cảnh của nghiên cứu này, dựa theo theo Luật Người Cao Tuổi Việt Nam [14], nghiên cứu sử dụng định nghĩa NCT là người từ đủ 60 tuổi trở lên. Một số đặc điểm ở người cao tuổi [15] Như đã đề cập ở trên, khi già đi, mỗi hệ cơ quan trong cơ thể đều trải qua những sự thay đổi khác nhau. Những biến đổi này là kết quả của sự tương tác giữa môi trường sống, bệnh tật, di truyền, stress và rất nhiều yếu tố khác. Những thay đổi này đôi lúc rất dễ nhận thấy như tóc bạc, da nhăn, lưng gù.
Tuy nhiên, có rất nhiều biến đổi âm thầm trong cơ thể mà mắt thường không thể nhận ra được nếu không được thăm khám và xét nghiệm. Những thay đổi theo tuổi rất đa dạng, khác nhau giữa các cá thể và các cơ quan bộ phận trong cùng một cá thể. Ví dụ: có người da nhăn nheo và tóc bạc nhưng cũng có nhiều người khác da căng mịn, tóc đen, có người lưng còng nhưng có người vẫn giữ nguyên vóc dáng như hồi còn trẻ. Sự lão hóa của mỗi cá thể bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố có thể thay đổi và phòng ngừa được.
Sự già hóa sinh học bắt đầu từ giai đoạn trung niên và sau đó sụt giảm một cách tuyến tính theo lứa tuổi cho tới lúc mất đi. Sự thay đổi sinh học này sẽ biểu hiện ở nhiều hệ cơ quan trên cơ thể người cao tuổi. Điển hình ở một số hệ cơ quan sau: Ở hệ tim mạch, kích thước tim ở người cao tuổi tăng nhưng kèm theo giảm tổng thể khối lượng cơ tim chức năng, áp lực tống máu cũng giảm dẫn tới giảm khối lượng tuần hoàn, các van tim trở nên xơ cứng hơn do bị calci hóa, ngăn cản khả năng đóng khít của những van này dẫn tới những tiếng thổi. Luyện tập thể lực thường xuyên không đủ để ngăn ngừa đồng thời cả lão hóa hệ tim mạch và các bệnh lý tim mạch.
Nhưng luyện tập có thể làm giảm cholesterol từ đó giảm xơ cứng và xơ vữa động mạch. Hơn nữa, luyện tập cũng làm giảm huyết áp và giảm cân từ đó giảm mức độ gắng sức cho tim. Ở hệ hô hấp, người cao tuổi sẽ giảm dung tích sống, phổi có xu hướng kém đàn hồi, hạn chế chức năng trao đổi khí. Thông khí tối đa giảm rõ ở người cao tuổi.
phản ánh dự trữ hô hấp giảm, vì vậy họ thường khó thở, thiếu không khí. Khả năng hấp thụ oxy vào máu động mạch ở người có tuổi cũng giảm, ảnh hưởng tới việc cung cấp oxy cho mô, ảnh hưởng tới hoạt động chung. Mất nước và calci trong xương, sụn sườn vôi hóa, khớp sườn-cột sống co cứng, đĩa đệm đốt sống thoái hóa, cơ lưng dài teo khiến lồng ngực kém di động hơn tạo lực cản lớn làm giảm hiệu quả hô hấp. Về hệ tiêu hóa, sự giảm nhu động thực quản làm chậm quá trình vận chuyển thức ăn qua ống tiêu hóa dẫn tới người cao tuổi phải nhai lâu hơn và ăn chậm hơn, giảm nhu động ruột, giảm tiết dịch vị dạ dày gây giảm hấp thu chất dinh dưỡng, giảm nhu động của đại tràng cản trở thức ăn di chuyển trong phần còn lại của ống tiêu hóa và đi ra ngoài cơ thể.
Tăng thời gian lưu thông của khối thức ăn trong ruột làm tái hấp thu nước nhiều hơn dẫn tới tỉ lệ táo bón gia tăng ở người cao tuổi. Có 2 rối loạn đường ruột ở người cao tuổi là táo bón và són phân, nguyên nhân do các thay đổi sinh lý và do sử dụng nhiều thuốc, ăn ít chất xơ, ít hoạt động thể lực. Thay đổi trong hệ tiết niệu là vấn đề thường gặp ở người cao tuổi. Thận, cơ quan phụ trách nhiệm vụ cô đặc nước tiểu và loại trừ các sản phẩm chuyển hóa sẽ mất đi một lượng lớn các đơn vị lọc (nephron) và cầu thận.
Ở người cao tuổi, trương lực và khối lượng bàng quang cũng giảm sút nghiêm trọng từ đó dẫn tới tỉ lệ cao người cao tuổi mắc chứng són tiểu. Có rất nhiều thay đổi diễn ra trong hệ cơ xương khớp của người cao tuổi. Những thay đổi này thường tác động lớn đến sức khỏe và các chức năng sống của người cao tuổi. Giảm tổng khối lượng xương và cơ.
Giảm khối lượng xương diễn ra dưới dạng mất calci xương làm xương trở nên giòn và yếu, loãng xương và tăng nguy cơ gãy xương ở người cao tuổi. Khối lượng từng đơn vị cơ của các nhóm cơ lớn cũng giảm dần theo thời gian. Tuy nhiên, sự giảm khối lượng xương và cơ có thể được hạn chế bởi luyện tập. Tập thể dục rất cần thiết để duy trì sức khỏe tuổi già, có thể tạo ra những ảnh hưởng tích cực lên người cao tuổi bao gồm khả năng duy trì sức mạnh và sức dẻo dai của hệ cơ xương khớp suốt những năm tháng tuổi.
Luyện tập thường xuyên giúp làm chậm quá trình lão hóa trên hệ cơ xương khớp. Cả 5 giác quan đều trải qua quá trình lão hóa. Thị lực giảm sút, khả năng phân biệt màu sắc cũng kém hơn, khả năng co nhỏ đồng tử tức thì đáp ứng với các kích thích giảm và thị thường ngoại vi cũng giảm. Thủy tinh thể trở nên vàng dẫn tới đục thể thủy tinh tiến triển ở người cao tuổi.
Người cao tuổi có nguy cơ bị những bệnh như đục thể thủy tinh hay tăng nhãn áp. Hệ quả của giảm lượng nước trong cơ thể người cao tuổi là tích tụ ráy tai do đó ảnh hưởng tới thính lực. Việc lấy ráy tai cho người cao tuổi có thể cải thiện thính lực. Một vài thay đổi sinh lý của tuổi già bao gồm giảm trọng lượng của não, thay đổi tỉ trọng của chất xám với chất trắng, tổng lượng neuron cũng giảm mạnh và số lượng mảng lão hóa cũng tăng lên.
Người cao tuổi cũng thường giảm tưới máu não. Ảnh hưởng của những thay đổi này lên hành vi của con người rất đa dạng. Một số người cao tuổi bị cho là “lẩm cẩm” và “chậm chạp”. Suy giảm trí nhớ cũng phổ biến ở người cao tuổi nhưng lại bị nhầm lẫn thành sa sút trí tuệ.
Sa sút trí tuệ là một bệnh lý của hệ nhận thức. Nhiều người cao tuổi sống khỏe mạnh tới 100 tuổi vẫn minh mẫn. Hoạt động nội tiết gắn liền với hoạt động thần kinh. Quá trình lão hóa hệ nội tiết làm thay đổi chức năng nội tiết dẫn đến giảm khả năng phản ứng và thích nghi của cơ thể đối với các stress thông thường.
Rõ ràng là khi con người ta già đi, mỗi hệ cơ quan trong cơ thể đều trải qua những thay đổi nhất định. Nhưng thay đổi đó gây ra bởi nhiều yếu tố bao gồm sự tiếp xúc với các tác động từ môi trường, bệnh tật, di truyền, stress và rất nhiều yếu tố khác. Tuy nhiên những biến đổi này thường dẫn đến nguy cơ tiến triển các bệnh lý. Tình hình già hóa dân số và tuổi thọ trung bình tại Việt Nam.
Theo UNFPA, tỷ lệ NCT trong dân số Việt Nam đã tăng lên với tốc độ nhanh chóng [22].Theo kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở tỷ lệ NCT năm 1999 là 8,0% [2] ,tỷ lệ này đã tăng lên đến năm 2009 là 8,6% [3] và đến năm 2019 là 11,9% [4]. Đến năm 2035, một phần năm dân số Việt Nam sẽ là từ 60 tuổi trở lên và sẽ là một trong ba quốc gia ASEAN duy nhất có tỷ lệ NCT trong dân số vượt quá 20%. Dân số “già hóa” được phân loại theo Cowgill và Holmes (1970) là khi dân số từ 65 tuổi trở lên chiếm từ 7% đến 9,9% tổng dân số, trong khi đó một số báo cáo sử dụng tỷ lệ người từ 60 tuổi trở lên chiếm từ 10% đến 19,9% dân số thì dân số được coi là “già hóa” [21]. Như vậy, dân số Việt Nam hiện tại được coi là dân số già hóa.
Quá trình già hóa dân số được đo bằng chỉ số già hóa.