phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, Luận văn dài 129 trang với 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về nguồn lực thông tin với hoạt động phục vụ đào tạo theo tín chỉ tại Trung tâm Thông tin - Thư viện Học viện Ngân hàng. Chƣơng 2: Thực trạng nguồn lực thông tin của Trung tâm Thông tin - Thư viện phục vụ đào tạo theo tín chỉ tại Học viện Ngân hàng. Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả nguồn lực thông tin của Trung tâm Thông tin - Thư viện phục vụ đào tạo theo tín chỉ tại Học viện Ngân hàng. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NGUỒN LỰC THÔNG TIN VỚI HOẠT ĐỘNG PHỤC VỤ ĐÀO TẠO THEO TÍN CHỈ TẠI TRUNG TÂM THÔNG TIN - THƢ VIỆN HỌC VIỆN NGÂN HÀNG 1.
Cơ sở lí luận về nguồn lực thông tin 1. Khái niệm về nguồn lực thông tin * Khái niệm nguồn lực thông tin Nguồn lực thông tin (Information Resources) là tài sản đặc biệt của mỗi quốc gia, khi được khai thác sử dụng không mất đi mà ngày càng giàu thêm. NLTT là cơ sở hình thành mọi hoạt động của thư viện, là căn cứ để xây dựng và phát triển các SP&DV thông tin nhằm thỏa mãn NCT của NDT. Hiện nay, khái niệm NLTT tồn tại nhiều quan điểm khác nhau tùy cách tiếp cận của các nhà nghiên cứu.
Trên thế giới có rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu về NLTT, tiêu biểu như Evans G. Dù chung mục tiêu là đáp ứng NCT của NDT nhưng hai tác giả đã đưa ra các khái niệm khác nhau về NLTT. Knoppers coi "NLTT là một phần của sản phẩm trí tuệ, sản phẩm lao động khoa học, kiến thức, sáng tạo của con người, phản ánh những thông tin được kiểm soát, được ghi lại dưới một dạng vật chất nào đó. NLTT phải được cấu trúc, tổ chức lại giúp con người có thể tìm và khai thác được chúng theo nhiều cách khác nhau" [59].
Nhà thư viện học Evans G. Edward lại cho rằng "NLTT là tập hợp của các loại hình tài liệu, bao gồm cả đ a CD-ROM có liên kết tới các trang web mà NDT có thể dễ dàng truy cập và xem những nội dung có vẻ như lỗi thời của kỷ nguyên trước đây qua Google" [58] Thông qua những khái niệm về NLTT, dưới những góc độ tiếp cận khác nhau, cả V. Edward đều mong muốn xác định phạm vi, nội dung và sứ mệnh của NLTT. Ở Việt Nam, theo TS.
Lê Văn Viết, nội hàm của thuật ngữ “nguồn lực thông tin” vẫn chưa được thống nhất, “có người cho rằng nó tương đương như vốn tài liệu trong cơ quan TT-TV. Người khác lại đưa ra quan điểm NLTT không chỉ bao hàm 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com các nguồn lực về tài liệu mà còn gồm các thành phần khác như tài liệu, thông tin, nhân lực thông tin,” [53], tuy nhiên chủ yếu vẫn tập trung vào hai xu hướng sau: Theo nghĩa rộng: NLTT được hiểu như tiềm lực của hoạt động thông tin gồm nguồn tin, nguồn nhân lực, cơ sở hạ tầng, nguồn kinh phí… đảm bảo cho hoạt động TT-TV. Theo Nghị định 99/2014/NĐ-CP của chính phủ: NLTT khoa học và công nghệ gồm nguồn tin, nguồn nhân lực, nguồn kinh phí, CSVC kỹ thuật có liên quan đến hoạt động thông tin khoa học và công nghệ [29]. Theo từ điển Bách khoa thư Wikipedia" NLTT là dữ liệu, tài sản thông tin của một bộ phận, tổ chức, đơn vị",… Theo nghĩa hẹp: Pháp lệnh Thư viện quy định “Vốn tài liệu thư viện là những tài liệu được sưu tầm tập hợp theo nhiều chủ đề, nội dung nhất định, được xử lý theo quy tắc, quy trình khoa học của nghiệp vụ thư viện để tổ chức phục vụ người đọc đạt được hiệu quả cao và được bảo quản” [39].
Trần Thị Quý cho rằng “NLTT chính là các dạng vật chất khác nhau lưu giữ các thông tin/tri thức của con người được tổ chức, sắp xếp lại, có cấu trúc, có ý ngh a, có nội dung mà con người có thể khai thác được chúng theo nhiều cách tiếp cận khác nhau. NLTT này do một tổ chức, cá nhân nào đó kiểm soát chúng nhằm phục vụ cho lợi ích của con người”[41]. Nguyễn Viết Ngh a “NLTT là tập hợp có tổ chức các loại hình tài liệu dưới mọi dạng khác nhau của một cơ quan TT-TV nhằm thỏa mãn nhu cầu của NDT” [34]. Lê Văn Viết định ngh a "NLTT là tổ hợp các tài liệu phản ánh những kết quả NCKH trong hoạt động nhận thức và thực tiễn của con người.
Theo đó, sự hình thành, nguyên tắc xây dựng, chức năng của vốn tài liệu và của NLTT nhìn chung là đồng nhất. Do đó, coi vốn tài liệu của các cơ quan TT-TV chính là NLTT cũng là điều dễ hiểu”. Theo Thuật ngữ hoạt động TT-TV: NLTT được sưu tầm, tập hợp theo nhiều chủ đề, nội dung nhất định, được xử lí theo quy trình, quy tắc của nghiệp vụ thư viện [3]. Trên thực tế, “nguồn học liệu” là thuật ngữ dùng để chỉ NLTT trong các đơn vị nghiên cứu - đào tạo.
Tóm lại, tác giả tiếp cận quan điểm của các nhà nghiên cứu theo hướng NLTT là nguồn tin phù hợp với NCT của NDT. Hiểu một cách phổ biến và ngắn gọn NLTT chỉ tới các nguồn sách, báo, bộ sưu tập tài liệu… dưới mọi định dạng 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com khác nhau được tổ chức, kiểm soát và có thể dễ dàng truy cập, chia sẻ để giải quyết những vấn đề liên quan đến NLTT và phù hợp với chức năng, loại hình và đặc điểm của của cơ quan TT-TV. NLTT bao hàm cả tiềm lực thông tin và khả năng với tới các nguồn tin khác nhau. Theo ngh a này, tất cả các nguồn thông tin có trong sở hữu của thư viện hoặc thư viện có thể tiếp cận đều có thể gọi là NLTT.
* Khái niệm về phát triển nguồn lực thông tin Theo quan điểm của triết học, “phát triển” là một thuộc tính của vật chất. Mọi sự vật và hiện tượng trải qua một loạt các trạng thái từ khi xuất hiện đến khi tiêu vong. Phạm trù “phát triển” thể hiện tính chất chung của tất cả những biến đổi ấy có ngh a là bất kỳ một sự vật, một hiện tượng, một hệ thống nào, cũng như cả thế giới luôn biến đổi và chuyển sang những trạng thái mới, những trạng thái trước đây chưa từng có và không bao giờ lặp lại hoàn toàn chính xác những trạng thái ban đầu. Nguồn gốc của phát triển là sự vận động và đấu tranh giữa các mặt đối lập.
Phương thức phát triển là chuyển hóa những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất, và ngược lại theo kiểu nhảy vọt. Theo từ điển tiếng Việt “phát triển” là sự biến đổi hoặc làm cho biến đổi theo chiều hướng tăng từ ít đến nhiều, từ thấp đến cao, từ hẹp đến rộng, từ đơn giản đến phức tạp, mở mang từ nhỏ thành to, từ yếu thành mạnh. Như vậy, “phát triển” là sự biến đổi của sự vật, hiện tượng từ trạng thái tồn tại cũ sang trạng thái tồn tại mới, đó là sự biến đổi cả về chất và lượng theo chiều hướng tốt lên. Khái niệm “phát triển NLTT” chưa thống nhất: Edward Evans cho rằng “Phát triển NLTT là quá trình nhận biết các điểm mạnh và điểm yếu của vốn tài liệu trên cơ sở NCT của NDT và các nguồn tin từ cộng đồng để cố gắng sửa chữa những điểm yếu đang tồn tại, nếu có” [58].
Theo Từ điển Giải ngh a thư viện học và tin học của Hiệp hội thư viện Mỹ, “Phát triển NLTT” chính là phát triển bộ sưu tập của thư viện, bao gồm việc xác định và phối hợp chính sách tuyển chọn, định lượng nhu cầu của người sử dụng, những nghiên cứu về việc sử dụng sưu tập, việc đánh giá sưu tập, nhận diện các nhu cầu của sưu tập, tuyển chọn tài liệu, lập kế hoạch về việc chia sẻ tài nguyên, việc bảo quản sưu tập và loại bỏ tài liệu ra khỏi sưu tập. Nguyễn Viết Ngh a: “phát triển” gắn liền với quản trị nguồn tin, 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com vì phát triển là tiền đề của quản trị và quản trị là một khâu quan trọng trong phát triển NLTT [34]. Theo Từ điển Giải ngh a thư viện học ALA, phát triển NLTT được hiểu là phát triển các bộ sưu tập trong thư viện. Phát triển bộ sưu tập (Collection development) bao gồm việc xác định và phối hợp chính sách tuyển chọn, lượng định nhu cầu của NDT, những nghiên cứu về việc sử dụng sưu tập, việc đánh giá sưu tập, nhận diện các nhu cầu của sưu tập, tuyển chọn tài liệu, lập kế hoạch về việc chia sẻ tài nguyên, việc bảo quản sưu tập và việc loại bỏ tài liệu ra khỏi sưu tập.
Từ phân tích trên, thuật ngữ “phát triển NLTT” được hiểu là hoạt động làm cho nguồn tài liệu, thông tin của thư viện lớn mạnh theo xu hướng tốt lên, phong phú cả về lượng và chất, giúp NDT có thể tra cứu, khai thác thỏa mãn tốt hơn NCT của mình. Mục tiêu cuối cùng của phát triển NLTT là trang bị cho thư viện một NLTT có thể đáp ứng được những “nhu cầu thích hợp” của NDT trong giới hạn ngân sách và nguồn nhân lực của thư viện. * Khái niệm tổ chức nguồn lực thông tin “Tổ chức” là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau nên đã có không ít những định ngh a, với khái niệm không giống nhau: - Theo quan điểm triết học, “Tổ chức là cơ cấu tồn tại của sự vật. Sự vật không thể tồn tại mà không có một hình thức liên kết nhất định các yếu tố thuộc nội dung.
Tổ chức vì vậy là thuộc tính của bản thân các sự vật”[28]. Tổ chức là thuộc tính của sự vật, nói cách khác sự vật luôn tồn tại dưới dạng tổ chức nhất định; - Khoa học tổ chức và quản lý định ngh a tổ chức với ý ngh a hẹp là “tập thể của con người tập hợp nhau lại để thực hiện một nhiệm vụ chung hoặc nhằm đạt tới một mục tiêu xác định của tập thể đó”[26]. - Trong Đại Từ điển tiếng Việt (1999): “Tổ chức là sự sắp xếp, bố trí thành các bộ phận để cùng thực hiện một nhiệm vụ hoặc một chức năng chung”.TS Trần Thị Quý trong tập bài giảng môn Thông tin học nâng cao cho rằng: “Tổ chức là tổ hợp các thành phần, thông qua các luồng thông tin có quan hệ chặt chẽ với nhau, cùng hỗ trợ và thúc đẩy nhau nhằm thực hiện nhiệm vụ chung trong một môi trường nhất định”[40]. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.