Chương 1: NGUỒN GỐC, BẢN CHẤT VÀ KẾT CẤU CỦA Ý THỨC 1.1 Nguồn gốc của ý thức: Ý thức là một trong hai phạm trù cơ bản được các trường phái triết học quan tâm nghiên cứu, đóng vai trò quan trọng trong việc hiểu về bản chất của con người và thế giới xung quanh. nhưng tùy theo cách tiếp cận và lý giải về ý thức khác nhau mà có những quan niệm rất khác nhau, là cơ sở để hình thành các trường phái triết học khác nhau, hai đường lối cơ bản đối lập nhau là chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm. Chủ nghĩa duy vật cho rằng ý thức là sản phẩm của vật chất, xuất phát từ thế giới vật chất bên ngoài, và được hình thành thông qua tương tác với thế giới vật chất. Đối lập với đó, chủ nghĩa duy tâm cho rằng ý thức là yếu tố cơ bản, tồn tại độc lập và có ảnh hưởng đến thế giới vật chất.
Sự mâu thuẫn giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm không chỉ là tranh luận về bản chất của ý thức mà còn ảnh hưởng đến cách nhìn nhận về thế giới, về con người và về mục tiêu của triết học. Sự phân biệt này cũng mở ra không gian cho sự đa dạng và sáng tạo trong triết học, khi các trường phái triết học khác nhau có thể xây dựng cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu riêng dựa trên quan điểm về ý thức của mình. Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng: C. Mác khẳng định quan điểm duy vật biện chứng về ý thức: “Ý niệm chẳng qua chỉ là vật chất chuyển vào trong đầu óc con người và được cải thiện đi ở trong đó”1.
Dựa trên những thành tựu mới của khoa học tự nhiên, nhất là sinh lý học - thần kinh hiện đại, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng ý thức có nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội.1 Nguồn gốc tự nhiên Thứ nhất, ý thức chỉ là thuộc tính của vật chất, nhưng không phải của mọi dạng vật chất, mà là thuộc tính của một dạng vật chất sống có tổ chức cao nhất là bộ óc người. Ăngghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự Thật, Hà Nội, 2002, t. 5 Bộ óc người có cấu trúc đặc biệt phát triển, rất tinh vi và phức tạp khoảng 14-15 tỷ tế bào thần kinh, nhiều nếp nhăn.
Sự phân khu của não bộ và hệ thống dây thần kinh liên hệ với các giác quan để thu nhận và xử lý thông tin từ thế giới khách quan vào não bộ, hình thành những phản xạ có điều kiện và không có điều kiện, điều khiển các hoạt động của cơ thể trong quan hệ và thế giới bên ngoài. Ý thức là chức năng của bộ óc người hoạt động bình thường. Sinh lý và ý thức là hai mặt của một quá trình - quá trình sinh lý thần kinh trong bộ óc người mang nội dung ý thức, cũng giống như tín hiệu vật chất mang nội dung thông tin. Thứ hai, sự tác động của thế giới khách quan lên bộ não người tạo nên quá trình phản ánh năng động, sáng tạo.
Phản ánh là sự tái tạo những đặc điểm của một hệ thống vật chất này ở một hệ thống vật chất khác trong quá trình tác động qua lại của chúng. Sự phản ánh phụ thuộc vào vật tác động và vật nhận tác động, đồng thời luôn mang nội dung thông tin của vật tác động. Các cấp độ phản ánh gồm có: Phản ánh vật lý, hóa học mang tính thụ động, chưa có sự định hướng, lựa chọn, trình độ phản ánh này có ở giới tự nhiên vô sinh có kết cấu vật chất đơn giản. Ví dụ: Khi để thanh sắt vào axit, thanh sắt sẽ dần bị oxi hóa, bị ăn mòn dẫn đến thay đổi kết cấu, vị trí, tính chất lý - hóa qua quá trình kết hợp phân giải các chất; Phản ánh sinh học: Phản ánh sinh học trong các cơ thể sống có tính định hướng, lựa chọn, giúp cho các cơ thể sống thích nghi với môi trường để tồn tại.
Trình độ phản ánh này ở giới tự nhiên hữu sinh gắn với kết cấu vật chất phức tạp. Ví dụ: Ở thế giới thực vật, là sự kích thích cây xương rồng sống được ở những nơi có khí hậu khô hạn là nhờ những thay đổi trong cấu trúc sinh trưởng và phát triển của cây, những chiếc lá dần thu nhỏ lại thành những chiếc gai, giúp cây chống mất nước và thích nghi với môi trường khắc nghiệt. Ví dụ: Ở động vật chưa có hệ thần kinh trung ương là phản xạ không có điều kiện khi có sự tác động từ bên ngoài môi trường lên cơ thể sống. Con tắc kè sẽ thay đổi màu sắc để trùng màu với môi trường khi ở những môi trường khác nhau.
6 Phản ánh tâm lý có ở động vật đã có hệ thần kinh trung ương. Tuy nhiên, tâm lý động vật chưa phải là ý thức, mà đó vẫn là trình độ phản ánh mang tính bản năng của các loại động vật bậc cao, xuất phát từ nhu cầu sinh lý tự nhiên, trực tiếp của cơ thể động vật chi phối. Ví dụ: Quan sát loài voi, khi có một con bị chết, cả đàn sẽ quay quần lại, kêu la thảm thiết. Phản ánh ý thức là hình thức phản ánh đặc trưng chỉ có ở con người và là hình thức phản ánh cao nhất, phản ánh mang tính năng động, sáng tạo của thế giới vật chất.
Sự phản ánh này có tính chủ động, lựa chọn thông tin, xử lý thông tin để tạo ra những thông tin mới, phát hiện ý nghĩa của thông tin. Ví dụ: Tác phẩm kinh điển Tây Du Kí là một tác phẩm hư cấu nhưng được viết dựa trên một câu chuyện có thật. Câu chuyện kể về một vị sư đã trải qua một quãng đường rất dài và đầy gian nan để lấy cuốn kinh về truyền dạy cho người trong quốc gia. Đây là một ý thức có sự liên kết, tưởng tượng, so sánh, gán ghép các hệ thống vật chất khác nhau từ đó hình thành sự sáng tạo và tạo nên những nhân vật cùng với các tình tiết hư cấu.
Như vậy, sự xuất hiện con người và hình thành bộ óc của con người có năng lực phản ánh hiện thực khách quan là nguồn gốc tự nhiên của ý thức. Tuy vậy, sự ra đời của ý thức không phải chỉ có nguồn gốc tự nhiên mà còn do nguồn gốc xã hội. Sự phát triển của giới tự nhiên mới tạo ra tiền đề vật chất có năng lực phản ánh, chỉ là nguồn gốc sâu xa của ý thức. Hoạt động thực tiễn của loài người mới là nguồn gốc trực tiếp quyết định sự ra đời của ý thức, C.
Ăngghen khẳng định: “Con người cũng có cả “ý thức” nữa. Song đó không phải là một ý thức bẩm sinh sinh ra đã là ý thức “thuần túy”. Do đó ngay từ đầu, ý thức đã là một sản phẩm xã hội, và vẫn là như vậy chừng nào con người còn tồn tại”2. Sự hình thành, phát triển của ý thức là một quá trình thống nhất không tách rời giữa nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội.2 Nguồn gốc xã hội 2 C.
Ăngghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự Thật, Hà Nội, 2002, t. 7 Để tồn tại, con người phải tạo ra những vật phẩm để thỏa mãn nhu cầu của mình. Hoạt động lao động sáng tạo của loài người có những ý nghĩa đặc biệt.
Ph, Ăngghen đã chỉ rõ những động lực xã hội trực tiếp thúc đẩy sự ra đời của ý thức: “Trước hết là lao động; sau lao động và đồng thời với lao động là ngôn ngữ; đó là hai sức kích thích chủ yếu đã ảnh hưởng đến bộ óc của con vượn, làm cho bộ óc đó dần dần biến chuyển thành bộ óc con người”3. Thứ nhất, lao động là quá trình mà con người sử dụng công cụ lao động tác động vào giới tự nhiên, cải biến chúng theo những nhu cầu và mục đích của con người. Trong quá trình lao động, con người phải nhận thức về thế giới khách quan, liên tục sáng tạo và sử dụng công cụ lao động tác động vào đối tượng hiện thực, bắt chúng phải bộc lộ những thuộc tính, bản chất, kết cấu,… Từ đó, con người ý thức ngày càng sâu sắc về thế giới, cải biến và nâng cao trình độ của các giác quan trong quá trình nhận biết để nhận biết sự vật được chính xác, nhanh nhạy hơn. Lao động đã làm thay đổi cơ thể con người, làm cho bộ óc con người ngày càng phát triển.
Đồng thời, cũng đã làm nảy sinh nhu cầu giao tiếp, trao đổi kinh nghiệm giữa các thành viên trong xã hội, xuất hiện nhu cầu về ngôn ngữ. Ví dụ: Từ xa xưa, khi con người lao động đã tạo ra các vật dụng như dao, liềm để có thể phát triển từ thời kì săn bắt - hái lượm sang thời kì nông nghiệp nhằm gia tăng chất lượng cuộc sống. Qua thời gian, quá trình lao động đã đem lại nhiều thành tựu to lớn cho nhân loại, con người đã làm ra nhiều loại công cụ phục vụ cho đời sống điển hình là sự ra đời của máy hơi nước nhằm đáp ứng nhu cầu dệt may ở Anh vào cuối thế kỷ XVIII. Đó được coi là cuộc cách mạng công nghệ 1.0, là tiền đề để có được cuộc cách mạng 4.0 như bây giờ, tất cả đều là nhờ lao động của con người.
Thứ hai, ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu vật chất mang nội dung ý thức. Ngôn ngữ xuất hiện trở thành “vỏ vật chất” của tư duy; là hiện thực trực tiếp của ý thức; là phương thức để ý thức tồn tại với tư cách là sản phẩm xã hội-lịch sử. Ngôn ngữ vừa là phương tiện giao tiếp, vừa là công cụ của tư duy. Nhờ ngôn ngữ, con người có thể khái quát, trừu tượng hóa, suy nghĩ độc lập, tách khỏi sự vật cảm tính; có ngôn ngữ để có thể giao 3 C.
Ăngghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự Thật, Hà Nội, 2002, t. 8 tiếp, trao đổi tư tưởng, lưu giữ, kế thừa những tri thức, kinh nghiệm phong phú của xã hội đã tích lũy được qua các thế hệ, thời kì lịch sử. Ý thức là một hiện tượng có tính xã hội, do đó không có phương tiện trao đổi về mặt ngôn ngữ thì ý thức không thể hình thành và phát triển được.
Lao động và ngôn ngữ là sự kích thích chủ yếu làm chuyển biến dần bộ óc của loài vượn người thành bộ óc con người và tâm lý động vật thành ý thức con người. Ví dụ: Trong thời đại 4.