Tổng quan nghiên cứu

Nghiên cứu ngôn ngữ đối thoại của nhân vật trong tác phẩm văn học là hướng tiếp cận liên ngành giàu giá trị khoa học, kết hợp chặt chẽ giữa thi pháp học và ngữ dụng học hiện đại. Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Ngôn ngữ học thực hiện khảo sát toàn diện trên hệ thống dữ liệu gồm 494 cuộc thoại với 3.427 câu thoại từ 210 nhân vật trong hai tiểu thuyết tiêu biểu của nhà văn Dương Hướng: Bến không chồng (xuất bản năm 1990) và Dưới chín tầng trời (xuất bản năm 2007). Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là làm sáng tỏ bản chất cấu trúc hội thoại, các quy tắc tương tác liên nhân và cách thức tổ chức hành vi ngôn ngữ nhằm khắc họa tính cách nhân vật trong không gian văn học Việt Nam thời kỳ hậu chiến và đổi mới.

Mục tiêu cụ thể của luận văn hướng đến việc nhận diện 4 dạng thức đối thoại cơ bản, phân loại 4 kiểu câu chức năng và bóc tách các tầng bậc hành vi ngôn trung trực tiếp cũng như gián tiếp. Phạm vi thời gian và không gian khảo sát trải dài từ bối cảnh cải cách ruộng đất, kháng chiến chống Mỹ cứu nước cho đến giai đoạn kinh tế thị trường mở cửa tại hai không gian nghệ thuật điển hình: làng Đông thuần nông vùng đồng bằng Bắc Bộ và vùng duyên hải năng động. Kết quả nghiên cứu xác lập các chỉ số định lượng khách quan với 100% ngữ liệu được xử lý theo chuẩn lý thuyết hội thoại, mang lại đóng góp thiết thực cho việc nghiên cứu phong cách tác giả cũng như giảng dạy văn học trong nhà trường.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Đề tài vận dụng hệ thống lý thuyết ngữ dụng học hiện đại, trong đó nền tảng cốt lõi là thuyết hành vi ngôn ngữ do John Langshaw Austin khởi xướng năm 1962, chia lời nói thành 3 cấp độ: hành vi tạo ngôn, hành vi ngôn trung và hành vi mượn ngôn. Nghiên cứu đi sâu khai thác 5 lớp hành vi ngôn trung cơ bản gồm phán xét, hành xử, cam kết, ứng xử và bày tỏ, kết hợp cùng các tiêu chuẩn nhận diện ngữ pháp và ngữ nghĩa của câu cầu khiến tiếng Việt do Đào Thị Minh Lan hệ thống hóa năm 2010.

Bên cạnh đó, công trình kế thừa thuyết cấu trúc hội thoại của Đỗ Hữu Châu cùng các công trình giao tiếp học của Nguyễn Đức Dân, Nguyễn Thiện Giáp và Đỗ Thị Kim Liên. Hệ thống khái niệm then chốt được vận dụng gồm: cuộc thoại, lượt lời, thoa thoại, hành vi nói trực tiếp và gián tiếp. Quan hệ liên nhân giữa các nhân vật giao tiếp được phân tích dựa trên 2 trục quan hệ cơ bản: trục quyền thế xác lập theo cương vị xã hội, tuổi tác; và trục thân sơ phản ánh khoảng cách tâm lý, tình cảm trong từng hoàn cảnh giao tiếp cụ thể.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của công trình bao gồm toàn bộ văn bản của hai tiểu thuyết Bến không chồng (gồm 176 cuộc thoại, 102 nhân vật) và Dưới chín tầng trời (gồm 318 cuộc thoại, 108 nhân vật). Luận văn sử dụng phương pháp chọn mẫu toàn diện đối với toàn bộ 494 cuộc thoại để xây dựng bảng thống kê định lượng, kết hợp phương pháp chọn mẫu điển hình nhằm trích xuất các trích đoạn đối thoại đặc trưng phục vụ phân tích định tính chuyên sâu.

Phương pháp phân tích hội thoại ngữ dụng kết hợp chặt chẽ với phương pháp thống kê miêu tả. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là vì sự phối hợp định lượng và định tính cho phép định lượng hóa tần suất xuất hiện của 4 kiểu câu (trần thuật, nghi vấn, cầu khiến, cảm thán) và 2 cơ chế hành động nói (trực tiếp, gián tiếp), từ đó khắc phục triệt để tính chủ quan, cảm tính trong phê bình văn học truyền thống. Toàn bộ quy trình khảo sát, thu thập và xử lý ngữ liệu được hoàn thành và nghiệm thu tại Đại học Quốc gia Hà Nội vào năm 2014, bảo đảm độ tin cậy và tính nhất quán học thuật cao.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, dạng thức song thoại chiếm tỷ lệ áp đảo tuyệt đối trong cả hai tác phẩm, đạt 71,6% (126 trên tổng số 176 cuộc thoại) trong Bến không chồng và 78,3% (249 trên tổng số 318 cuộc thoại) trong Dưới chín tầng trời. Tam thoại giữ vị trí thứ hai với tỷ lệ lần lượt là 11,9% (21 cuộc thoại) và 10,1% (32 cuộc thoại). Dạng thức đa thoại chiếm 9,1% (16 cuộc thoại) ở Bến không chồng và 6,0% (19 cuộc thoại) ở Dưới chín tầng trời. Dạng thức độc thoại nội tâm chiếm tỷ lệ thấp nhất với 7,4% (13 cuộc thoại) và 5,6% (18 cuộc thoại).

Thứ hai, về cơ cấu kiểu câu đối thoại, câu trần thuật giữ vị trí cao nhất với 57,5% (864 trên tổng số 1.502 câu) ở Bến không chồng và 47,1% (906 trên tổng số 1.925 câu) ở Dưới chín tầng trời. Câu nghi vấn đứng thứ hai với 18,1% (272 câu) trong Bến không chồng và tăng mạnh lên 25,0% (481 câu) trong Dưới chín tầng trời. Câu cầu khiến chiếm tỷ lệ tương đồng giữa hai tác phẩm với 17,4% (261 câu) và 19,1% (368 câu). Câu cảm thán chiếm tỷ lệ khiêm tốn nhất, lần lượt là 7,0% (105 câu) và 8,8% (170 câu).

Thứ ba, sự phân hóa rõ rệt trong việc sử dụng hành động nói trực tiếp và gián tiếp giữa hai tiểu thuyết. Trong Bến không chồng, 100% câu cầu khiến (261 câu) và câu cảm thán (105 câu) được sử dụng trực tiếp; câu trần thuật trực tiếp đạt 98,6% (852 câu), trong khi câu trần thuật gián tiếp chỉ chiếm 0,8% (12 câu) và nghi vấn gián tiếp chiếm 1,6% (25 câu). Trái lại, ở Dưới chín tầng trời, câu nghi vấn gián tiếp tăng vọt lên 9,3% (179 câu) và câu trần thuật gián tiếp chiếm 4,2% (81 câu).

Thảo luận kết quả

Sự gia tăng đột biến của câu nghi vấn gián tiếp từ 1,6% ở Bến không chồng lên 9,3% ở Dưới chín tầng trời với 179 phát ngôn phản ánh sự chuyển dịch sâu sắc của bối cảnh lịch sử và tâm lý xã hội. Không gian làng Đông trong Bến không chồng mang tính khép kín của văn hóa làng xã cổ truyền, nơi các định kiến đạo đức nặng nề khiến nhân vật đối thoại bộc trực, trực diện, ít sử dụng hàm ngôn. Ngược lại, không gian thị thành và thương trường nhiều toan tính trong Dưới chín tầng trời buộc các nhân vật phải vận dụng tối đa chiến lược giao tiếp gián tiếp như rào đón, mỉa mai, ẩn ý nhằm đạt được mục đích quyền lực và lợi ích kinh tế.

Dữ liệu khảo sát có thể được mô hình hóa trực quan qua biểu đồ hình tròn thể hiện tương quan 4 dạng thức thoại và bảng thống kê ma trận chéo giữa cấu trúc cú pháp với đích ngôn trung. So sánh với các nghiên cứu đối thoại trong tác phẩm của Ma Văn Kháng hay Nguyễn Huy Thiệp, ngòi bút của Dương Hướng mang nét chân thực, mộc mạc nhưng khắc họa sắc sảo mâu thuẫn nội tâm. Điển hình như nhân vật Vạn trong Bến không chồng: khi đối thoại với dân làng, nhân vật nắm giữ vai giao tiếp quyền thế tuyệt đối với các câu mệnh lệnh cương quyết; nhưng khi đối thoại với người mình yêu thương, nhân vật rơi vào thế yếu, sử dụng độc thoại nội tâm dằn vặt vì bị trói buộc bởi dư luận làng xã.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, chuẩn hóa và đổi mới phương pháp giảng dạy: Tích hợp phương pháp phân tích hội thoại ngữ dụng học vào chương trình Ngữ văn bậc đại học và trung học phổ thông, nâng cao khoảng 30% hiệu quả tiếp nhận văn bản nghệ thuật cho học sinh, sinh viên trong giai đoạn 2026 - 2027 do các khoa chuyên ngành Ngữ văn và Sư phạm chủ trì thực hiện.

Thứ hai, mở rộng quy mô nghiên cứu liên tác phẩm: Triển khai mở rộng khảo sát đối chiếu trên mẫu ngữ liệu gồm hơn 10 tiểu thuyết đương đại tiêu biểu giai đoạn từ 1986 đến nay, hoàn thiện bộ tiêu chí định lượng về hành vi ngôn từ vào quý 4 năm 2027 dưới sự điều phối của các viện nghiên cứu ngôn ngữ học.

Thứ ba, xây dựng ngân hàng ngữ liệu văn học số hóa: Ứng dụng công nghệ xử lý ngôn ngữ tự nhiên để xây dựng cơ sở dữ liệu hội thoại văn học với dung lượng trên 50.000 câu thoại được gán nhãn ngữ dụng tự động trong vòng 24 tháng tới, phục vụ nghiên cứu liên ngành do các nhóm nghiên cứu Ngôn ngữ học và Công nghệ thông tin phối hợp phát triển.

Thứ tư, tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ sáng tác và biên kịch: Định kỳ tổ chức 2 tọa đàm chuyên môn mỗi năm từ năm 2026 do Hội Nhà văn và Hội Ngôn ngữ học bảo trợ, nhằm chia sẻ các kỹ thuật tổ chức lượt lời, khai thác quan hệ liên nhân giúp các tác giả trẻ nâng cao tính chân thực và sức biểu cảm cho đối thoại trong văn xuôi và kịch bản điện ảnh.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Ngôn ngữ học, Văn học Việt Nam: Nắm vững quy trình vận dụng lý thuyết ngữ dụng học vào phân tích văn bản nghệ thuật, khai thác bộ dữ liệu 3.427 câu thoại làm tư liệu tham chiếu cho các công trình nghiên cứu sau đại học.

Giảng viên và giáo viên Ngữ văn: Vận dụng kết quả khảo sát 494 cuộc thoại để xây dựng giáo án đổi mới phương pháp dạy học đọc hiểu tác phẩm văn xuôi hiện thực, hướng dẫn người học phân tích tâm lý và tính cách nhân vật thông qua các chỉ dấu ngôn từ cụ thể.

Nhà văn, nhà biên kịch và biên tập viên xuất bản: Tham khảo cơ chế vận hành của 4 dạng thức đối thoại cùng các chiến lược chuyển đổi vai quyền thế và thân sơ để xây dựng lời thoại nhân vật sắc sảo, tự nhiên, mang đậm hơi thở đời sống xã hội.

Chuyên gia nghiên cứu văn hóa học và tâm lý học xã hội: Khai thác tư liệu phản ánh chân thực về 210 nhân vật trong hai tác phẩm để phân tích quá trình chuyển dịch giá trị đạo đức, xung đột tâm lý con người Việt Nam thời kỳ hậu chiến và kinh tế thị trường.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao dạng thức song thoại lại chiếm tỷ lệ cao nhất trong cả hai tiểu thuyết?

Dạng thức song thoại chiếm ưu thế vượt trội với 71,6% (126 cuộc thoại) trong Bến không chồng và 78,3% (249 cuộc thoại) trong Dưới chín tầng trời. Đây là hình thức giao tiếp trực diện hai chiều phổ biến nhất, giúp nhà văn đẩy cao các xung đột kịch tính giữa hai nhân vật và khắc họa biến chuyển tâm lý một cách cô đọng nhất qua 3.427 câu thoại được khảo sát.

Câu trần thuật đóng vai trò như thế nào trong việc thể hiện tính cách nhân vật?

Câu trần thuật giữ tỷ trọng cao nhất ở cả hai tác phẩm, chiếm 57,5% (864 câu) ở Bến không chồng và 47,1% (906 câu) ở Dưới chín tầng trời. Kiểu câu này giữ chức năng then chốt trong việc trình bày sự tình, xác lập lập luận và bộc lộ quan điểm sống của nhân vật, với trên 90% phát ngôn được sử dụng theo phương thức hành động nói trực tiếp.

Sự khác biệt về hành vi ngôn ngữ gián tiếp giữa hai tiểu thuyết phản ánh điều gì?

Số lượng câu hỏi gián tiếp tăng mạnh từ 1,6% (25 câu) ở Bến không chồng lên 9,3% (179 câu) ở Dưới chín tầng trời. Sự khác biệt này phản ánh quá trình đô thị hóa và kinh tế thị trường, khi con người chuyển từ môi trường làng quê bộc trực sang môi trường đô thị phức tạp, buộc phải sử dụng nhiều phát ngôn rào đón, ẩn ý để đạt mục đích.

Vai giao tiếp quyền thế được thể hiện như thế nào qua lời thoại của nhân vật Vạn?

Nhân vật Vạn thường xuyên xác lập vai giao tiếp quyền thế thông qua việc sử dụng 100% câu cầu khiến trực tiếp và đại từ xưng hô khoảng cách như tôi với ông, tôi với anh khi làm việc với dân làng. Trái lại, trong quan hệ tình cảm cá nhân với nhân vật Nhân, Vạn rơi vào thế yếu và thường dùng độc thoại nội tâm để kìm nén cảm xúc.

Lý thuyết hành vi ngôn ngữ của Austin được vận dụng như thế nào trong luận văn?

Luận văn đã vận dụng thuyết của Austin năm 1962 để phân loại 5 lớp hành vi ngôn trung trong 494 cuộc thoại. Việc phân tách rành mạch giữa hành vi tạo ngôn, ngôn trung và mượn ngôn giúp người nghiên cứu giải mã chính xác mục đích giao tiếp tiềm ẩn phía sau từng cấu trúc phát ngôn của nhân vật văn học.

Kết luận

  • Luận văn hoàn thành việc khảo sát toàn diện 494 cuộc thoại với 3.427 câu thoại của 210 nhân vật trong hai tiểu thuyết tiêu biểu của nhà văn Dương Hướng.
  • Khẳng định dạng thức song thoại giữ vai trò nòng cốt trong tổ chức hội thoại tự sự, chiếm tỷ lệ từ 71,6% đến 78,3% tổng số cuộc thoại.
  • Chứng minh quy luật biến đổi diễn ngôn theo môi trường xã hội, thể hiện qua sự gia tăng của câu hỏi gián tiếp từ 1,6% ở nông thôn lên 9,3% ở đô thị.
  • Đóng góp một khung phương pháp luận định lượng kết hợp định tính chuẩn xác cho hướng tiếp cận ngôn ngữ học văn học tại Việt Nam.
  • Mở ra triển vọng ứng dụng mở rộng trên 10 tiểu thuyết đương đại và phát triển các mô hình xử lý ngôn ngữ tự nhiên trong giai đoạn 2026 - 2028.

Công trình khẳng định giá trị khoa học vững chắc của việc giải mã tác phẩm văn học dưới lăng kính ngữ dụng học. Bạn đọc và các nhà nghiên cứu quan tâm có thể khai thác, ứng dụng kết quả này để tiếp tục phát triển các đề tài phân tích diễn ngôn chuyên sâu.