Chương 1 -10- QUAN DIEM CUA DANG VÀ NHÀ NƯỚC VIỆT NAM VE NGOẠI GIAO PHUC VU PHAT TRIEN KINH TE 1. Khái niệm ngoại giao phục vụ kinh tê và những nhiệm vu chính của ngoại giao phục vụ phát triển kinh tế : 1.1 Khái niệm ngoại giao phục vụ kinh tế: Từ rất lâu, nhiều quốc gia trên thế giới đã coi việc theo đuổi các lợi ích kinh tế là mục tiêu cốt lõi trong hoạt động đối ngoại. Ngoại giao với những mục tiêu kinh tế đã ra đời từ rất sớm, có ngoại giao là có kinh té.- Tuy nhiên, thuật ngữ Ngoại giao kinh tế như một lĩnh vực chuyên biệt của hoạt động đối ngoại chi được Nhật Bản khởi xướng va văn bản hoá vào giai đoạn sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Sở di như vậy là vì trong bối cảnh môi trường quốc tế đóng cửa với sự đối đầu căng thắng của trật tự thế giới hai cực, ngoại giao kinh tế được coi là biện pháp tốt nhất để mở ra con đường giao lưu quốc tế.
Hơn nữa, trong chiến tranh thế giới thứ hai Nhat Bản là nước bại trận, bi ràng buộc bởi các điều luật quốc tế về hạn chế vai trò chính trị vả quân sự trên thế giới, dé lấy lại uy danh -và hình ảnh của mình Nhật Ban chủ trương dốc toàn lực vào phát triển kinh tế, coi đây là cách tối ưu nhất. Từ năm 1991 đến nay, sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng khoa học — công nghệ hiện dai và toàn cầu hoá dẫn tới sự phát triển nhanh chóng phan công lao động quốc tế, cạnh tranh kinh tế trở nên hết sức gay gắt, tính chất mở cửa của các nền kinh tế quốc gia tăng nhanh, sức mạnh kinh tế trở thành nhân tố quyết định sức mạnh tổng hợp của mỗi quốc gia. Cùng với đó, việc kết thúc chiến tranh lạnh đã mở ra thời kỳ mới để các nước trên thế giới tập trung sức người, sức của cho phát triển kinh tế trong nước và mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế. Việc tham gia mở rộng kinh tế đối ngoại không chỉ dừng lại ở mức độ tham gia kiến tạo chính sách kinh tế đối ngoại, tạo môi trường thuận lợi, tham gia giải quyết những bất đồng, khó khăna— mà còn đi vào những vân đê rât cụ thê như xúc tiên thương mại, —đâu tư, thu hút viện trợ - l1 - nước ngoài, du lịch, và môi giới những hợp đồng kinh tế lớn.
Trong bối cảnh đó, ngoại giao phục vụ kinh tế được phát triển mạnh mẽ với những nội dung và hình thức mới. Nhiều nước đã coi ngoại giao phục vụ kinh tế như một chìa khoá dé mở cửa ra thé giới. Vậy ngoại giao phục vụ kinh tế là gì? Có nhiều định nghĩa về khái niệm này, ví dụ như: “Ngoại giao phục vụ kinh tế là lĩnh vực đặc biệt của hoạt động ngoại giao, liên quan đến việc sử dụng kinh tế như là đối tượng và phương tiện để cạnh tranh và hợp tác trong quan hệ quốc tế” [56, tr 52]; “Ngoại giao phục vụ kinh tế là đạt mục đích kinh tế bằng phương pháp ngoại giao, không phụ thuộc vào việc ngoại giao có sử dụng những đòn bẩy kinh tế để đạt được mục tiêu hay không” [25, tr-52] ngoại giao phục vụ kinh tế được hiểu là hoạt động ngoại giao “nhằm thúc đây thương mại, hợp tác đầu tư, hợp tác khoa học công nghệ, du lịch, lao động, dịch vụ, thu hút ngoại tệ, bảo vệ lợi ich nhà nước, quyền và lợi ich hợp pháp của các tổ chức, cá nhân trong hoạt động kinh tế đối ngoại” [ebga-phằn tài Hệu tham khảo. Tuy nhiên, những khái niệm đó còn khá hẹp, chưa thực sự phản ánh đúng về hoạt động ngoại giao phục vụ kinh tế.
Có thể thấy, ngoại giao phục vụ -kinh tế là hoạt động nhiều phương diện, trong điều kiện hiện nay phát triển trên cơ sở song phương, đa phương và vận hành ở các cấp độ khác nhau (đại vĩ mô, vĩ mô và vi mô). Từ góc độ chủ thể, ngoại giao phục vụ kinh tế hướng tới thực hiện quan hệ ngoại thương, quan hệ tài chính — tiền tệ và sản xuất quốc tẾ, quan hệ kinh tế trong lĩnh vực thực hiện tiềm năng kinh tế, khoa học — công nghệ và giải quyết van đề toàn cầu của các quốc gia trên thé giới. Xét một cách tổng thé, khái niệm Ngoại giao phục vu kinh tế được hiểu là toàn bộ các hoạt động đối ngoại mang nội dung kinh tế. Đó không chỉ là chính sách thu hút đầu tư nước ngoài, chính sách viện trợ và nhận viện tro, ma còn là những hoạt động mà thông qua đó có thê tác động tới luật pháp, hay chính sách xuất nhập khâu, đâu tư của các nước khác, chính sách tiên tệ.
nhăm đem lại những lợi - 12- ích kinh tế gián tiếp như tạo môi trường cho doanh nghiệp nước mình làm ăn, tạo tương quan có lợi về tỷ giá tiền tệ. Nhiều nước cho rằng, việc áp dụng khái niệm ngoại giao phục vụ kinh tế, cũng giống như ngoại giao phục -vụ văn hoá và ngoại giao phục vụ an ninh, trước hết là để nhân mạnh nội dung của các hoạt động đối ngoại phục vụ phát triển kinh tế. Còn việc ưu tiên lĩnh vực nào thì phải tuỳ vào từng nước cũng như tình hình cụ thể. Có những giai đoạn, ngoại giao an ninh phải được chú trọng hàng đầu, lúc ngoại giao văn hoá được coi là hiệu quả hon để tạo mối quan hệ với các nước khác.
Ngoại giao phục vụ kinh tế được nhân mạnh khi đất nước có hoà bình và xác định phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm. Trong các thập kỷ gần đây, ngoại giao phục vụ kinh tế luôn được coi là một bộ phận quan trọng của ngoại giao Việt Nam. Hiện nay, khi chúng ta đang tập trung toàn lực dé xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, thì ngoại giao phục vụ -kinh tế lại càng có vai trò nôi bật, được xem là một trong ba trụ cột của ngoại giao Việt Nam: ngoại giao phục vụ -chinh tri, ngoại giao phục vụ kinh tẾ va ngoại giao phục vụ văn hóa, nhằm tranh thủ tối đa các nguồn lực quốc tế, “kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại” trong tình hình mới, phục vụ sự nghiệp phát triển chung của đất nước. Từ khi Đảng ta xác định phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, ngoại giao cũng xác định phục vụ kinh tế là nhiệm vụ trung tâm của mình.
Thực tiễn cho thấy điều đó là hoàn toàn đúng. Chính trị và kinh tế có mối quan hệ hệ hữu cơ với nhau. Ở nơi nào có quan hệ chính trị tốt, quan hệ kinh tế cũng phát triển. Quan hệ chính trị mở đường cho quan hệ kinh tế và quan hệ kinh tế hỗ trợ, tăng cường liên kết quan hệ chính trị.
Dưới quan điểm chính trị thực dụng, ngoại giao không phải để nói chuyện chính trị suông. Mỗi chuyến đi của các nhà lãnh đạo cao cấp không chỉ bàn chuyện quan hệ chung chung mà là tìm kiếm cơ hội làm ăn, vận động hành lang cho lợi ích kinh tê của nước mình và mở - 13- đường cho các doanh nghiệp khai thác thị trường. Mỗi nhà lãnh đạo khi đó đã trở thành các “salesman”, “marketer” tầm cỡ quốc gia. Những nhiệm vụ chính của ngoại giao phục vụ phát triển kinh tế Những nhiệm vụ chính của ngoại giao phục vụ phát triển kinh tế là : Thứ nhất, nghiên cứu kinh tế thé giới, khu vực, các tô chức kinh tế quốc tế, kinh tế các nước- và quan hệ kinh tế quốc tế, kinh tế Việt Nam để góp phần hoạch định đường lối chủ trương, chính sách kinh tế, nhất là lĩnh vực kinh tế đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế, khu vực.
Hơn nữa, ngoại giao tim hiéu nhu cau, kha nang về các mặt của các đối tác va trên cơ sở khả năng, nhu cầu của các bộ, ngành trong nước, dé từ đó kiến nghị chủ trương, chính sách phù hợp cho từng nước, từng đối tác. 6-Onhiệm vụ này, các lĩnh vực cần tập trung quan tâm như: đóng góp triển khai chiến lược hội nhập kinh tế quốc tế; thu hút ODA, FDI, đây mạnh xúc tiễn thương mại và các hình thức đầu tư, viện trợ quốc tế khác; thúc đây chuyền giao công nghệ; quảng bá văn hóa dân tộc Việt Nam, thúc đây du lịch quốc tế vào nước ta, tranh thủ sự đóng góp của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài cho công cuộc xây dựng và phát triển đât nước; Thứ hai, tham gia xây dựng khung pháp lý, các văn bản pháp quy về kinh tế vĩ mô nói chung và văn bản chuyên ngành, đặc biệt là việc cung cấp, gợi ý về kinh nghiệm của các nước. Thứ ba, chuẩn bị đàm phán, tham gia đàm phán, hoặc ký kết các hiệp định, thỏa thuận chính phủ (song phương, đa phương) giữa ta với các nước, làm nên tảng pháp lý cho quan hệ hợp tác quốc tế; đồng thời theo dõi, đôn đốc việc thực hiện các hiệp định, thỏa thận đã ký kết. Thứ tw, cung cấp những thông tin can thiết, chính xác và kịp thời cho việc xây dựng chủ trương chính sách cũng như các hoạt động kinh tế cụ thể -14- của các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp và tham gia quản lý nhà nước vê kinh tế đối ngoại.
Thứ năm, hỗ trợ các bộ, ngành, địa phương và các doanh nghiệp trong việc liên hệ tìm đối tác, thâm tra đối tác, tìm kiếm và mở rộng thị trường, giúp đỡ các doanh nghiệp Việt Nam làm ăn ở nước ngoài [28, trang 553- 559]. Cũng cần thiết phải nhắn mạnh rằng, lĩnh vực ngoại giao được dé cập ở đây không chỉ gói gọn trong chính sách và hoạt động đối ngoại của Chính phủ mà phải được hiểu theo nghĩa rộng - đó là sự tông lực và tổng hợp của tat cả các chủ thể trên mặt trận đối ngoại, bao gồm hoạt động ngoại giao của Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ và ké cả ngoại giao nhân dân. Ở đây cũng cần phân biệt giữa hai khái niệm ngoại giao kinh tế và kinh tế đối ngoại, để tránh sự nhằm lẫn khi sử dung hai thuật ngữ này. Kinh tế đối ngoại là tổng thé của các quan hệ kinh tế, khoa học, kĩ thuật, công nghệ của một quốc gia nhất định với các quốc gia khác con lại hoặc với các tổ chức kinh tế quốc tế khác, được thực hiện dưới nhiều hình thức,hình thành và phát triển trên cơ sở phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động quốc tế.