Chương 1: Tổng quan về ngoại giao kinh tế, Sáng kiến “Vành đai và con đường” của Trung Quốc Chương 2: Sự thực thi chính sách ngoại giao kinh tế trong Sáng kiến “Vành đai và con đường” của Trung Quốc. Chương 3: Triển vọng ngoại giao kinh tế trong Sáng kiến “Vành đai và con đường” của Trung Quốc, tác động đối với Việt Nam và kiến nghị. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NGOẠI GIAO KINH TẾ, SÁNG KIẾN “VÀNH ĐAI VÀ CON ĐƢỜNG” CỦA TRUNG QUỐC 1. Một số vấn đề lý luận về ngoại giao kinh tế “Ngoại giao kinh tế” lần đầu tiên xuất hiện như một thuật ngữ chuyên ngành trong “Sách Xanh ngoại giao” của Chính phủ Nhật Bản được công bố năm 1957.
Là nước thua trận trong Thế chiến thứ 2, Nhật Bản coi hoạt động kinh tế, đặc biệt là viện trợ đối ngoại là biện pháp quan trọng và chủ yếu để thực hiện đường lối ngoại giao hậu chiến và mục tiêu chiến lược của mình. Chính vì lẽ đó, những nghiên cứu về ngoại giao kinh tế xuất hiện đầu tiên ở Nhật Bản. Ngoại giao kinh tế được coi là hành vi đặc thù trong chính sách đối ngoại của nước này, ngoại giao kinh tế được nhìn nhận là hoạt động viện trợ đối ngoại. Các học giả phương Tây có nghiên cứu muộn hơn và đưa ra những phương diện khác nhau trong định nghĩa về ngoại giao kinh tế.
Học giả người Anh, G.Berridge trong tác phẩm “Thực tiễn và lý luận ngoại giao”, cho rằng, ngoại giao kinh tế bao gồm hai mặt. Thứ nhất là, ngoại giao xử lý những vấn đề trong chính sách kinh tế, bao gồm hoạt động ngoại giao như cử phái đoàn đại diện tham dự hội nghị quốc tế. Thứ hai là, dùng tài nguyên kinh tế để tiến hành các công tác ngoại giao, theo phương thức như viện trợ đối ngoại hoặc trừng phạt kinh tế, mục đích nhằm thực hiện một mục tiêu chính sách ngoại giao nào đó. Đối với Việt Nam, theo Nghị định 08/2003/NĐ-CP, ngày 10 tháng 02 năm 2003 quy định về Cơ quan của Việt Nam ở nước ngoài phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế đã định nghĩa ngoại giao kinh tế là hoạt động nhằm “thúc đẩy thương mại, hợp tác đầu tư, hợp tác khoa học công nghệ, du lịch, lao động, dịch vụ, thu ngoại tệ, bảo vệ lợi của nhà nước, quyền lợi hợp pháp của các tổ chức, cá nhân Việt Nam trong hoạt động kinh tế đối ngoại”.
Chủ thể chính trong hoạt động ngoại giao là các quốc gia và các chủ thể khác như các tổ chức kinh tế, tiền tệ, tài chính quốc tế, các thực thể kinh tế (như Đài Loan), các công ty xuyên quốc gia, hay tập đoàn quốc tế. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đối với Trung Quốc, lĩnh vực ngoại giao kinh tế ngày càng được tập trung nghiên cứu và đề cập nhiều hơn, địa vị của ngoại giao kinh tế trong chiến lược đối ngoại của Trung Quốc ngày càng được nâng cao. Học giả Chu Vinh Sinh đưa ra định nghĩa về ngoại giao kinh tế trong tác phầm “Ngoại giao kinh tế” xuất bản năm 2004, với hai điểm chính: Thứ nhất, ngoại giao kinh tế là hành vi đối ngoại của một quốc gia nhằm theo đuổi lợi ích kinh tế. Thứ hai, ngoại giao kinh tế là hành vi đối ngoại của một quốc gia, thông qua biện pháp kinh tế để thực hiện và bảo vệ mục tiêu chiến lược của mình.
Từ định nghĩa này, rút ra hai đặc trưng mang tính quy định của ngoại giao kinh tế phân biệt với ngoại giao truyền thống và hoạt động kinh tế thông thường đó là: (1) So với ngoại giao truyền thống, ngoại giao kinh tế chủ yếu được triển khai xung quanh quan hệ kinh tế đối ngoại, phương thức thực hiện của nó là thúc đẩy hoặc ngăn cản quan hệ kinh tế quốc tế; (2) So với hoạt động kinh tế thông thường, chủ thể thực hiện ngoại giao kinh tế là chính quyền trung ương của một quốc gia. Điều này quyết định về bản chất ngoại giao kinh tế là một loại hoạt động chính trị. Chính vì vậy, nó thuộc phạm vi nghiên cứu của khoa học quan hệ quốc tế. Về nội dung của ngoại giao kinh tế, các học giả Trung Quốc chia ngoại giao kinh tế thành 3 loại là ngoại giao thương mại, ngoại giao tiền tệ và ngoại giao đầu tư: Ngoại giao thương mại được coi là hình thức phổ biến nhất trong ngoại giao kinh tế, vì hình thức biểu hiện thường gặp nhất trong quan hệ kinh tế quốc tế là thương mại.
Về mục đích, ngoại giao thương mại có thể thông qua các hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương làm giảm các hàng rào và mở rộng hợp tác thương mại và cũng có thể thông qua biện pháp chế tài nhằm phục vụ cho mục đích chính trị nào đó. Ngoại giao tiền tệ chủ yếu được triển khai xung quanh sự lưu động của vốn và tiền tệ. Đối với sự lưu động về vốn, nó vừa có thể là hành vi vay vốn quốc tế, cũng có thể là hoạt động ngoại giao giữa một quốc gia và một cơ cấu tài chính quốc tế (như IMF). Đối với sự lưu động tiền tệ, bao hàm hai phương diện: 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đàm phán xuyên quốc gia về tỉ giá hối đoái và việc sử dụng tiền tệ quốc tế.
Ví dụ, hiện nay giữa Mỹ và Trung Quốc có mâu thuẫn về tỉ giá hối đoái đồng Nhân dân tệ, đây là ví dụ điển hình của ngoại giao tiền tệ. Ngoại giao đầu tư, nội dung chủ yếu bao gồm đầu tư trực tiếp xuyên quốc gia và quốc tế hóa sản xuất. Những năm gần đây, do những thay đổi của tình hình thế giới, cùng những nhân tố không xác định trong tiến trình toàn cầu hóa tăng cao, một số nước đã ký kết với nhau hiệp đình bảo hộ đầu tư song phương (BIT). Đây là một điển hình của ngoại giao đầu tư.
Ngoại giao đầu tư chủ yếu nhằm loại bỏ hàng rào đầu tư do nước đối tượng dựng nên, loại bỏ chủ nghĩa bảo hộ, đồng thời yêu cầu chính phủ đối phương bảo vệ sự an toàn đầu tư cho nước mình để qua đó đạt được lợi ích kinh tế. Mặt khác, ngoại giao đầu tư cũng bao gồm cả sự giám sát hữu hiệu đối với hoạt động đầu tư từ bên ngoài để bảo vệ sản xuất trong nước. Quá trình thực hiện chính sách ngoại giao kinh tế của Trung Quốc Hoạt động ngoại giao kinh tế của Trung Quốc được coi là bắt đầu được triển khai từ cuối những năm 70 của thế kỷ 20. Trong một thời gian dài sau khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thành lập (1949), do những nguyên nhân về an ninh quốc gia, hình thái ý thức và chính sách kinh tế tự cung tự cấp trong nước, nên Trung Quốc không tham gia vào hệ thống kinh tế quốc tế do phương Tây chủ đạo.
Hoạt động ngoại giao kinh tế chủ yếu của Trung Quốc chỉ là hành vi giúp đỡ lẫn nhau về kinh tế giữa các quốc gia trong hệ thống xã hội chủ nghĩa, không phản ánh đầy đủ bản chất của ngoại giao kinh tế. Từ sau khi tiến hành cải cách mở cửa, Trung Quốc xác lập chiến lược phát triển quốc gia “lấy xây dựng kinh tế làm trung tâm”, tạo tiền đề “ngoại giao kinh tế nhằm phục vụ xây dựng kinh tế trong nước”. Sau 40 năm cải cách mở cửa, ngoại giao kinh tế của Trung Quốc đã trải qua 3 giai đoạn phát triển là tiếp xúc và thăm dò, học tập và hội nhập, tham gia và quản trị. Hiện nay, cùng với thế và lực của Trung Quốc ngày càng được nâng cao, ngoại giao kinh tế của Trung Quốc có thể coi là đang từng bước tiến vào giai đoạn đề ra quy tắc và nghị trình kinh tế quốc tế.
12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thứ nhất, giai đoạn tiếp xúc và thăm dò của ngoại giao kinh tế Trung Quốc những năm 80 của thế kỷ 20. Thời kỳ đầu cải cách mở cửa, mục tiêu hàng đầu của ngoại giao kinh tế Trung Quốc là phá vỡ trạng thái bị cô lập, hội nhập với thế giới, tạo ra môi trường ngoại giao tốt cho công cuộc hiện đại hóa. Chính phủ Trung Quốc đã cử nhiều đoàn đại biểu chính thức tới các nước phương Tây để tiến hành khảo sát, tìm hiểu tình hình kinh tế thế giới. Ví dụ, từ tháng 5 đến tháng 9/1978, Phó Thủ tướng Trung Quốc Cốc Mục đã dẫn đầu đoàn đại biểu Chính phủ Trung Quốc thăm một số nước phát triển ở châu Âu như Pháp, Thụy Sỹ, Đan Mạch, Đức, Bỉ với mục đích tham quan, học hỏi tình hình phát triển của các nước này, đồng thời tăng cường quan hệ giữa Trung Quốc và thế giới phương Tây.
Trong thời gian này, Trung Quốc bắt đầu tham gia vào các tổ chức kinh tế quốc tế chủ yếu. Năm 1980, Trung Quốc khôi phục tư cách thành viên tại IMF và Ngân hàng Thế giới. Từ năm 1981, Trung Quốc bắt đầu hợp tác với IMF trong các khoản vay, triển khai xây dựng cơ sở hạ tầng, bồi dưỡng nguồn nhân lực… Năm 1986, Trung Quốc trở thành thành viên của Ngân hàng Phát triển châu Á. Tháng 7/1986, Trung Quốc chính thức đệ đơn xin gia nhập lại Hiệp định thuế quan GATT.
Có thể nói, những năm 80 của thế kỷ 20, ngoại giao kinh tế của Trung Quốc không quá sôi động, nhưng thông qua sự tiếp xúc với thế giới bên ngoài, tìm hiểu tình hình kinh tế, thương mại và sự phát triển của khoa học kỹ thuật thế giới đã đặt nền tảng để Trung Quốc triển khai ngoại giao kinh tế ở cấp độ cao hơn. Thứ hai, giai đoạn học tập và hội nhập của ngoại giao kinh tế Trung Quốc những năm 90 của thế kỷ 20. Sau chiến tranh Lạnh, với sự kết thúc đối đầu hình thái ý thức và địa chính trị giữa các siêu cường, cùng với đó là quá trình toàn cầu hóa, Trung Quốc bắt đầu tích cực hơn trong hội nhập vào hệ thống kinh tế quốc tế, học tập các quy tắc và chế độ kinh tế quốc tế, đẩy nhanh bước phát triển và hiện đại hóa. Ở bình diện ngoại giao kinh tế khu vực, năm 1991, Trung Quốc gia nhập tổ chức Hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC).
Năm 1993, tham dự hội nghị các nhà lãnh đạo lần thứ nhất của tổ chức này. Trong 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thời gian cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997, cơ chế ASEAN và 3 nước Trung Quốc - Nhật - Hàn (10+3) được thành lập, được Trung Quốc hết sức coi trọng.