chương 1 CHUONG II: NGHIÊN CỨU UNG DUNG CÁC YEU TO TẠO HÌNH TRONG MINH HỌA SÁCH 2. Thực trạng ứng dụng các yếu tố tạo hình trong thiết kế minh họa sách hiện nay 2. Thực trạng ứng dụng các yếu tố tạo hình trong thiết kế minh họa sách trên thế giới 2. Thực trạng ứng dụng các yếu tố tạo hình trong thiết kế minh họa sách tại Việt Nam 2.
Đặc điểm sử dụng các yếu tố tạo hình trong thiết kế minh họa sách 2.2 Đặc điểm về đường nét 2.3 Đặc điểm về hình dạng 2.4 Đặc điểm về hình khối 2.5 Đặc điểm về màu sắc 2.6 Đặc điểm về chất liệu 2.7 Đặc điểm về không gian 2.8 Đặc điểm về hoa tiết Tiểu kết chương 2 CHƯƠNG III: UNG DUNG CAC YEU TO TẠO HÌNH VÀO MINH HỌA CHO SÁCH “VỪA NHAM MAT VỪA MO CUA SO” 3. Tổng quan về sách” Vừa nhắm mắt vừa mở cửa số” 3. Giới thiệu về tác giả Nguyễn Ngọc Thuần 3. Nội dung sách “Vừa nhắm mắt vừa mở cửa số” Lương Thu Hà - B19DCPT065 3 Đô án tot nghiệp đại hoc “Nghiên cứu các yêu tô tạo hình và ứng dụng vào minh họa cho sách ”Vừa nhăm mắt vừa mở cửa sô” 3.
Ứng dụng các yếu tố tạo hình vào minh họa cho sách “Vừa nhắm mắt vừa mở cửa số” 3. Xác định và lên ý tưởng thiết kế 3. Thiết kế nhân vật và bố cục cho sách “Vừa nhắm mắt vừa mở cửa số” 3. Thiết kế minh hoa cho sách “Vira nhắm mắt vừa mở cửa số” 3.
Thiết kế bộ qua tặng và ấn phẩm truyền thông cho sách “Vừa nhắm mắt vừa mở cửa số” Tiểu kết chương 3 Lương Thu Hà - B19DCPT065 4 Đồ án tốt nghiệp đại học “Nghiên cứu các yếu tố tạo hình và ứng dụng vào minh họa cho sách ”Vừa nhăm mat vừa mở cửa sô” CHUONG I: CƠ SỞ LÝ THUYET VE CÁC YEU TO TẠO HÌNH VÀ THIẾT KE MINH HỌA SÁCH 1. Cơ sở lý thuyết về các yếu tố tạo hình 1. Khái quát về các yếu tố tạo hình Tạo hình là gì? Tạo hình nói chung là môn học nghệ thuật nghiên cứu sáng tạo ra hình thức của vật thé có tính thâm mỹ, biểu hiện và độc đáo, đây là lý thuyết nền làm cơ sở cho tất cả các loại hình nghệ thuật khác. Ví dụ như tạo hình trong kiến trúc, tạo dáng các đồ đạc, vật dụng, thời trang, điêu khắc, đồ họa, tạo hình múa, kịch, điện ảnh, vv.
[1] Và dé tao ra được hình thức của vat thé, chắc chắn cần có các yếu tố khác nhau, các yếu tố đó được gọi là các yếu tổ tạo hình. Dựa trên các tài liệu đã tìm hiểu, tác giả thấy rang các nhà nghiên cứu đưa ra nhiều ý kiến khác nhau về các yếu tố tạo hình trong thiết kế, tuy nhiên, các yếu tố cơ bản và được nhắc đến nhiều nhất đó là đường nét, hình dạng, hình khối, màu sắc, không gian, chất liệu và hoạ tiết. Các yếu tố tạo hình cơ bản 1. Đường nét Đường nét (Line) được hiéu là sự kết nỗi giữa 2 điểm hoặc sự chuyền động của một điểm.
Một ví dụ đơn giản cho đường đó là khi chúng ta đặt bút và di chuyển 1 đoạn trên giấy sẽ tạo thành một đường. Đường có thé là một nét hữu hình hoặc là một đường thăng hàng vô hình giữa các yếu tố. Đường có thể là đường viền bao quanh một sự vật hoặc được tạo thành khi hai mặt phẳng giao thoa với nhau. Đường nét sẽ có chiều đài nhưng không có chiều rộng và chiều sâu, tuy nhiên chúng ta vẫn có thể nhìn thấy đường qua độ dày.
Khi một đường đủ dày, nó có thể tạo thành một mặt phăng [2] Đường có thê được phân loại theo hướng, theo thuộc tính và theo mục đích sử dụng. Phân loại theo hướng, đường nét sẽ có 5 dạng: đường dọc, đường ngang, đường chéo, đường zích zắc và đường cong. Khi áp dụng trong các bản vẽ hoặc thiết kế khác, mỗi loại đường nay cũng sẽ mang những ý nghĩa khác nhau. Đường dọc tạo cảm giác vững chãi, gợi cảm giác về độ cao, tương tự như dáng người đứng.
Ngược lại, đường ngang lại giống dáng người nằm, tạo cảm giác én định, cố định. Đường chéo di lên hoặc xuống có thé biểu hiện sự tăng hoặc giảm, đường chéo cũng thé hiện tính chuyên động nhiều hơn ngang hoặc dọc nên thường sẽ sử dụng dé điều hướng thị giác. Đường zigzag tạo cảm giác hỗn loạn và các góc nhọn cảnh báo sự nguy hiểm. Đường cong sẽ khiến người nhìn cảm thấy nhẹ nhàng, uyên chuyên và dé chịu Lương Thu Hà - B19DCPT065 5 Đô án tot nghiệp đại hoc “Nghiên cứu các yêu tô tạo hình và ứng dụng vào minh họa cho sách ”Vừa nhăm mắt vừa mở cửa sô” | | YS 2a | Horizontal Vertical Diagonal “nh Curved Hình 1 - 1: Cac loại đường phân loại theo hướng Phân loại theo thuộc tính, đường nét có thê được phân thành đường ngắn hoặc dài, dày hoặc mỏng, trơn hoặc gồ ghé, liên tục hay đứt quãng.
Hình I - 2: Các loại đường nét phân loại theo thuộc tính Phân loại theo mục đích sử dụng, đường được chia thành 5 nhóm: Contour line (đường viền) được sử dụng dé xác định các cạnh của vật thé, tạo ra ranh giới giữa bên trong và bên ngoài vật; decoration line (đường trang trí), như đúng tên gọi, các đường line thuộc nhóm này được sử dụng với mục đích trang trí và tạo điểm nhấn; Dividing line (đường phân cách) thường được sử dụng trong dan trang dé phân chia các cột, các phần nội dung một cách rõ ràng: Implied line (đường vô hình), nhóm đường này được tưởng tượng ra khi mắt kết nối các điểm thăng hàng với nhau; Psychic line (đường điều hướng), khi đường nét khiến mắt người nhìn di chuyển sang một điểm khác thì chúng thuộc nhóm đường điều hướng, ví dụ cơ bản nhất như các đường mũi tên chỉ về một phía. [4] Đường nét trong hội hoạ còn có thé sử dung dé thé hiện không gian 3 chiều, thêm chiều sâu trong tác pham phăng. Nhiều đường gộp lại với nhau sẽ tạo thành một cụm các đường nét, tuỳ vào độ đậm nhạt của cụm các đường nét đó, bạn sẽ thể hiện được khối hình, dáng hình và cả ánh sáng trong bức tranh của mình. [4] Lương Thu Hà - B19DCPT065 6 Đô án tot nghiệp đại hoc “Nghiên cứu các yêu tô tạo hình và ứng dụng vào minh họa cho sách ”Vừa nhăm mặt vừa mở cửa sô” 1.
Hình dạng Hình dạng (Shape) là một mặt phăng trong không gian 2 chiều, được xác định bởi đường nét bao quanh đóng kín hoặc sự đi chuyền liên tục của một điểm và điểm đó trở lại vị trí ban đầu. Nó có chiều dài và chiều rộng nhưng không có chiêu sâu. [3] Hình có thể được chia làm 3 nhóm chính: Nhóm hình hình hoc (Geometric shapes), nhóm hình này bao gồm tất cả các hình đã được giới khoa học định nghĩa. 3 dạng hình học cơ bản nhất là hình vuông, hình tròn, hình tam giác lại có những tác động tâm lý riêng: - Hinh vuông đại diện cho sự ôn định, vững chắc, cứng cáp, mạnh mẽ, tin cậy.
- _ Hình tròn mang ý nghĩa đối lập với hình vuông, biểu hiện cho sự chuyên động, cảm giác dễ thương, mềm mại, thân thiện. Hình tròn không có điểm bắt đầu và kết thúc, do đó tượng trưng cho sự vĩnh cửu, chu kỳ tuần hoàn. - Hinh tam giác tạo cảm giác sắc bén và diễn tả sự nguy hiểm. Bên cạnh đó nó còn mang tính định hướng, chăng hạn như hình ảnh mũi tên, thé hiện tốc độ và đôi khi là sự năng động.
Trong một số nền văn hóa, hình tam giác còn đại diện cho tín ngưỡng, tâm lĩnh. [8] Nhóm hình thứ 2 là nhóm hình hữu cơ (Organic shapes), nhóm hình này mô phỏng hình dạng của các vật thê có trong thực tế.là những dạng hình học không theo quy tắc toán học và gan liền với hình dang của thé giới tự nhiên như là cây cối, hoa lá, mây,. Những hình dạng này hầu hết được tạo bởi những đường cong uốn lượn thê hiện cảm giác nhẹ nhàng. Do tính chất bất quy tắc nên những mảng hữu cơ này mang lại sự tự do và năng động.
[4] Nhóm hình thứ 3 là nhóm hình trừu tượng (Abstract shapes), nhóm hình này là hình ảnh được tối giản từ các hình ảnh thực tế, thường được sử dụng dé thiết kế icon hay logo. [4] Lương Thu Hà - B19DCPT065 7 Đô án tot nghiệp đại hoc “Nghiên cứu các yêu tô tạo hình và ứng dụng vào minh họa cho sách ”Vừa nhăm mặt vừa mở cửa sô” These are the most commonly used shapes. Square Circle Triangle | Organic _| y es “ < These shapes represent oe ' things from the natural Leaves Flowers ink Splatters world. — These are representations Vff† re} © of everyday objects and Stick Figures icon Triangle people.
Hình 1 - 4: 3 nhóm hình trong thiết kế (Nguồn: Dribbble) 1. Hình khối Hình khối được xác định trong không gian 3 chiều. Khối được tạo nên từ hình dạng, khi đưa thêm chiều sâu hoặc thể tích vào hình, nó sẽ trở thành một khối. [3] Ví dụ như một hình vuông, thêm chiều sâu sẽ trở thành một khối lập phương, một hình tròn trong không gian 3 chiều sẽ tạo thành khối cầu, khối trụ.
Như vậy, hình khối sẽ có chiều đài, chiều rộng và chiều sâu. Một hình khối sẽ bao gồm nhiều mặt phăng, cạnh và góc. Các khối có thê là thực hoặc ảo. Khối thực có thể tích và trọng lượng, Các khối thực có thê là các vật thê như các tác phâm điêu khắc, các công trình kiến trúc,.
Còn các khối ảo sẽ được nhận thức qua việc đánh lừa thị giác dé tao chiều sâu. Các khối ảo là các hình ảnh ba chiều được thể hiện trong không gian hai chiều thông qua các phương pháp như áp dụng các phép chiếu hình ảnh, tạo bóng (tone, shade) hay chất liệu bề mặt cho hình ảnh đó. [3] Giống như hình dạng phăng thì khối cũng được chia làm 2 loại: khối hình học (khối lập phương, khối cầu, .) và khối hữu cơ (khối tinh thé, tổ ong, .) GALL Hình 1 - 5: Khối hình hoc Lương Thu Hà - B19DCPT065 § Đô án tot nghiệp đại hoc “Nghiên cứu các yêu tô tạo hình và ứng dụng vào minh họa cho sách ”Vừa nhăm mặt vừa mở cửa sô” Hình 1 - 6: Khối hữu cơ 1. Màu sắc Màu sắc (Color) là kết quả của ánh sáng phản chiếu từ vật thể đến mắt chúng ta.
Màu sắc mà mắt chúng ta cảm nhận được do sắc tố của vật thé quyết định. Màu sắc thường được coi là một yếu tố quan trọng của thiết kế vì nó có tính giao tiếp cao.