Chương 1 đã nói lên được mục tiêu và phương pháp nghiên cứu mà nhóm đã sử dụng. Trong chương này giới thiệu sơ lược về việc mua sắm trực tuyến sáp dưỡng môi Vaseline, lý do mà nhóm tác giả đã chọn sinh viên đang học tập tại DTU để nghiên cứu về ý định mua sắm trực tuyến sáp dưỡng môi Vaseline. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. MỘT SỐ KHÁI NIỆM NGHIÊN CỨU 2.
Khái niệm về ý định mua sắm Theo Ajzen (1991), ý định là một yếu tố tạo nên động lực thúc đẩy một cá nhân nào đó sẵn sàng thực hiện một hành vi cụ thể và ý định mua sắm cũng không ngoại lệ nên Delafrooz và các cộng sự (2011) cho rằng “ý định mua sắm trực tuyến là khả năng chắc chắn của người tiêu dùng sẽ thực hiện việc mua sắm qua Internet”. Theo Davis (1993), ý định là nhận thức về khả năng thực hiện một hành động nào đó của khách hàng. Đối với các dịch vụ công nghệ ý định được xem như nhận thức về xu hướng hay khả năng quyết định sử dụng dịch vụ hay hệ thống. Theo Techtarget, ý định mua hàng là xác suất mà khách hàng sẽ mua một sản phẩm hoặc dịch vụ.
Để đánh giá ý định mua hàng, các nhà tiếp thị sử dụng mô hình dự đoán để giúp xác định khả năng của kết quả trong tương lai dựa trên dữ liệu lịch sử. Khái niệm về mua sắm trực tuyến 11 Theo từ điển kinh doanh trực tuyến (businessdictionary.com), mua sắm trực tuyến là hành vi mua hàng hóa hoặc dịch vụ thông qua mạng Internet (businessdictionary. Trong khi đó, tờ Thời báo kinh tế trực tuyến (economictimes.com) cho rằng “Khi bạn mua một sản phẩm hoặc dịch vụ thông qua mạng Internet thay vì đến các cửa hàng truyền thống, đó được gọi là mua sắm trực tuyến” (The Economic Times, 2006). Một số nghiên cứu lại cho rằng “Mua sắm trực tuyến là quá trình người tiêu dùng mua sắm hàng hóa hoặc dịch vụ thông qua mạng Internet” (Hasslinger và cộng sự, 2007; Li và Zhang, 2002; MasterCard, 2008).
Có thể nhận thấy rằng, điểm chung giữa các khái niệm trên đều cho rằng mua sắm trực tuyến là hành vi mua sắm hàng hóa hoặc dịch vụ thông qua mạng Internet. Do đó, mua sắm trực tuyến còn được gọi là mua sắm qua mạng (Lui, 2012). Đây là một hình thức của TMĐT. Quá trình mua sắm này được khách hàng thực hiện với các cửa hàng ảo/gian hàng trực tuyến trên các website.
Trong suốt quá trình mua sắm này, người mua và người bán/nhân viên bán hàng không tiếp xúc trực tiếp với nhau, mọi giao dịch được thực hiện thông qua trang web (Kolesar và Galbraith, 2000; Lester và cộng sự, 2005). Các cửa hàng trực tuyến này hoạt động liên tục 24 giờ một ngày, 7 ngày một tuần (Abbad và cộng sự, 2011) nên khách hàng có thể mua sắm bất cứ khi nào (Lester và cộng sự, 2005; y Monsuwé và cộng sự, 2004). Khi muốn mua một sản phẩm nào đó, khách hàng chỉ việc lựa chọn bằng cách nhấp chuột vào sản phẩm đó và sản phẩm sẽ được chuyển đến địa chỉ do khách hàng định sẵn (Yoruk và cộng sự, 2011). Hàng hóa tại các cửa hàng này thường được mô tả bằng văn bản, hình ảnh, âm thanh, video (Kolesar và Galbraith, 2000; Lohse và Spiller, 1998).
Do đó, khách hàng chỉ có thể cảm nhận, đánh giá sản phẩm thông qua các thông điệp (dưới dạng: hình ảnh, văn bản, âm thanh, video) mà người bán đăng tải trên các website chứ không thể đánh giá bằng các giác quan theo cách thông thường như trong mua sắm truyền thống nên các giao dịch mua sắm trong môi trường trực tuyến rủi ro hơn so với mua sắm truyền thống (Laroche và cộng sự, 2005). 12 Nhận thức tính dễ sử dụng Nhận thức tính hữu ích Ý định mua trực tuyến Thuộc tính sản phẩm và công ty Nhận thức rủi ro giao dịch Sơ đồ 2 - 9: Mô hình nghiên cứu của Lê Minh Tuấn Nguồn: Lê Minh Tuấn (2013). Đề tài nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định mua sắm trực tuyến của người tiêu dùng Thế hệ Z tại Việt Nam” của Tạ Văn Thành và Đặng Xuân Ơn (2021). Sự phát triển của các kênh truyền thông xã hội cùng xu hướng thương mại điện tử đang thay đổi thói quen tiêu dùng của khách hàng.
Ở Việt Nam, Thế hệ Z đang dần trở thành phân khúc thị trường mục tiêu hàng đầu của các thương hiệu, là tương lai của kinh tế Việt Nam. Mục tiêu nghiên cứu là xác định, đánh giá tác động của các nhân tố then chốt ảnh hưởng đến ý định mua sắm trực tuyến của nguời tiêu dùng Thế hệ Z. Một nghiên cứu định lượng được tiến hành, phân tích độ tin cậy thang đo, nhân tố khám phá, hồi quy và kiểm định sự phù hợp của mô hình. Kết quả nghiên cứu cho thấy có 4 nhân tố: (1) nhận thức tính hữu ích, (2) uy tín, (3) nhận thức rủi ro (trong sản phẩm/ dịch vụ và trong giao dịch), (4) nhóm tham khảo và (5) tâm lý an toàn có ảnh hưởng đến ý định mua sắm trực tuyến của Thế hệ Z.
Các kết luận và kiến nghị được 26 đề xuất nhằm góp phần nâng cao hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp kinh doanh thương mại điện tử. Nhận thức tính hữu ích Uy tín Nhận thức rủi ro sản phẩm/ dịch Ý định mua sắm của NTD vụ thế hệ Z Nhóm tham khảo Tâm lý an toàn Sơ đồ 2 - 10: Mô hình nghiên cứu của Tạ Văn Thành và Đặng Nguồn: Tạ Văn Thành và Đặng Xuân Ơn (2021) 2. Đề tài nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định mua sắm trực tuyến của khách hàng tại Việt Nam” của Nguyễn Lê Phương Thanh (2013). Nghiên cứu này bao gồm mô hình nghiên cứu các biến giá cả (Price), sự tin cậy (Trust), nhận thức rủi ro (Perceived risk), kinh nghiệm của khách hàng (online purchasing experience).
Ngoài những yếu tố quen thuộc đã được nêu bên trên, tác giả chọn thêm khái niệm truyền miệng trực tuyến (E-WOM) nhằm giải thích tốt hơn ý định mua sắm trực tuyến của khách hàng tại Việt Nam. Vì với tốc độ phát triển của công nghệ thông tin như hiện nay, truyền miệng trực tuyến đang được coi là một công cụ hiệu quả giúp người tiêu dùng đưa ra được những quyết định mua hàng nhanh chóng và chính xác hơn. 27 Nhận thức sự hữu ích Nhận thức tính dễ sử dụng Mong đợi về giá Ý định mua sắm trực tuyến Sự tin cậy của khách hàng Nhận thức rủi ro Kinh nghiệm của khách hàng Truyền miệng trực tuyến – E- WOM Sơ đồ 2 - 11: Mô hình nghiên cứu của Nguyễn Lê Phương Thanh Nguồn: Nguyễn Lê Phương Thanh (2013) 2. Đề tài nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định mua sắm trực tuyến của người tiêu dùng Việt Nam” của Hà Ngọc Thắng, Nguyễn Thành Độ (2015).
Nghiên cứu thảo luận các yếu tố ảnh hưởng đến ý định mua trực tuyến của người tiêu dùng Việt Nam dựa trên lý thuyết hành vi có hoạch định. Phiếu câu hỏi được gửi trực tiếp đến các đối tượng điều tra và thông qua mạng Internet. Sau 5 tháng thu thập, có 423 phiếu trả lời hợp lệ được đưa vào phân tích. Dữ liệu được phân tích theo quy trình từ phân tích nhân tố đến kiểm định độ tin cậy và phân tích hồi quy.
Kết quả cho thấy, thái độ và nhận thức kiểm soát hành vi của người tiêu dùng có ảnh hưởng tích cực đến ý định mua trực tuyến. Trong khi đó, nhận thức rủi ro trong giao dịch có ảnh hưởng tiêu cực đến ý định mua trực tuyến của người tiêu dùng 28 Thái độ Ý kiến của nhóm tham khảo Ý định mua sắm trực tuyến Nhận thức kiểm soát hành vi Nhận thức rủi ro giao dịch Sơ đồ 2 - 14: Mô hình nghiên cứu của Hà Ngọc Thắng, Nguyễn Thành Độ Nguồn: Hà Ngọc Thắng, Nguyễn Thành Độ (2015) 2. Đề tài nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định mua sắm trực tuyến của giới trẻ tại thành phố Hồ Chí Minh ở kênh thương mại điện tử Shopee” của Nguyễn Hoàng Minh Trí (2021). Nghiên cứu này nhằm xác định và đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến ý định mua sắm trực tuyến của giới trẻ tại thành phố Hồ Chí Minh ở kênh thương mại điện tử Shopee.
Trên cơ sở lý thuyết của thuyết hành vi dự định (TPB), mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) và các nghiên cứu trước, nghiên cứu chỉ ra rằng có 5 yếu tố tác động đến ý định mua sắm trực tuyến của giới trẻ ở thành phố Hồ Chí Minh đó là nhận thức kiểm soát hành vi, chuẩn chủ quan, sự tin tưởng, sự sáng tạo của nhà cung cấp và nhận thức sự hữu dụng. Trong đó, chuẩn chủ quan là nhân tố tác động mạnh nhất đến ý định mua sắm trực tuyến của khách hàng trẻ ở thành phố Hồ Chí Minh. Nhận thức kiểm soát hành vi Chuẩn chủ quan Sự tin tưởng Ý định mua sắm trực tuyến Sự sáng tạo của nhà cung cấp Nhận thức sự hữu dụng 29 Sơ đồ 2 - 15: Mô hình nghiên cứu của Nguyễn Hoàng Minh Trí Nguồn: Nguyễn Hoàng Minh Trí (2021) 2. Tổng hợp kết quả của các công trình nghiên cứu trong nước và nước ngoài: Yếu tố ảnh hưởng STT Các tác giả 1 Thái độ Fishbein và Ajzen (1975), Fishbein và Ajzen (1989), Javadi và cộng sự (2012), Nuno Fortes và Paulo Rita (2016), Hà Ngọc Thắng và Nguyễn Thành Độ (2015) 2 Chuẩn chủ quan Fishbein và Ajzen (1975), Ajzen (1991), Javadi và cộng sự (2012), Nguyễn Hoàng Minh Trí (2021) 3 Nhận thức tính hữu ích Nuno Fortes và Paulo Rita (2016), Yi- Chih Lee và cộng sự (2014), Lê Minh Tuấn (2013), Tạ Văn Thành và Đặng Xuân Ơn (2021), Nguyễn Lê Phương Thanh (2013), Nguyễn Hoàng Minh Trí (2021) 4 Nhận thức tính dễ sử dụng Lackana Leelayouthotin (2004), Yi-Chih Lee và cộng sự (2014), Lê Minh Tuấn (2013), Nguyễn Lê Phương Thanh (2013) 5 Nhận thức kiểm soát hành Ajzen (1991), Javadi và cộng sự (2012), 30 vi Nuno Fortes và Paulo Rita (2016), Hà Ngọc Thắng và Nguyễn Thành Độ (2015), Nguyễn Hoàng Minh Trí (2021) 6 Nhận thức rủi ro Bauer, R.
MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT Dựa trên các lý thuyết và những mô hình nghiên cứu có liên quan trong và ngoài nước trước đó, kết hợp với lý thuyết nhóm xin được đề xuất mô hình nghiên cứu như sau: Nhận thức rủi ro Nhận thức tính hứu ích Ý định mua sắm trực tuyến sáp dưỡng môi Vaseline Sự tin cậy Chuẩn chủ quan Thái độ Nguồn: Nhóm tác giả đề xuất 2. Thái độ (TD) Thái độ được đo lường bằng nhận thức về các thuộc tính của sản phẩm, dịch vụ.