chương 1, tác giả đã trình bày lý do chọn đề tài, nêu ra những mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu xác định danh mục và đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến sự hài lòng của khách hàng cá nhân về dịch vụ ngân hàng số tại VCB chi nhánh Nhơn Trạch. Từ đó, đề xuất hàm ý quản trị nhằm nâng cao sự hài lòng của khách hàng. Đây là cơ sở để nghiên cứu sự hài lòng của khách hàng góp phần giúp các nhà quản lý dịch vụ ngân hàng số nắm bắt được các thành phần chất lượng dịch vụ tác động đến sự hài lòng của khách hàng sử dụng dịch vụ ngân hàng số. 6 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Lý thuyết về sự hài lòng 2.1 Khái niệm Sự hài lòng của khách hàng dựa trên phản ứng của khách hàng, theo Ayinaddis et al.
Đó là nhận thức hoặc đánh giá rằng một tính năng của sản phẩm hoặc dịch vụ, hoặc chính sản phẩm hoặc dịch vụ, đảm bảo rằng người tiêu dùng được thỏa mãn. Nói cách khác, đó là mức độ hài lòng chung với trải nghiệm sản phẩm hoặc dịch vụ. Theo đó, mặc dù mọi tác giả đều có ý kiến riêng về sự hài lòng của khách hàng, nhưng sự hài lòng của khách hàng luôn phụ thuộc vào các yếu tố sau: tình cảm và thái độ của khách hàng với nhà cung cấp, kết quả thực hiện dịch vụ, các giá trị mà dịch v Do đó, sự hài lòng là khi khách hàng dựa vào đánh giá hoặc phán đoán chủ quan về một sản phẩm hoặc dịch vụ. Khi nhu cầu của khách hàng được đáp ứng, đó là cảm giác tâm lý.
Những trải nghiệm đặc biệt được tích lũy khi mua sắm và sử dụng sản phẩm là nền tảng cho sự hài lòng. Khách hàng sẽ đưa ra đánh giá hài lòng sau khi mua và sử dụng sản phẩm, so sánh hiện thực với kỳ vọng. Nếu người tiêu dùng cảm thấy rằng sản phẩm hoặc dịch vụ họ nhận được xứng đáng với chi phí bỏ ra, họ sẽ tiếp tục sử dụng sản phẩm và thậm chí giới thiệu nó cho những người khác (Kotler & Keller, 2006). Trong cuộc cạnh tranh này, công ty nào làm hài lòng nhiều hơn khách hàng của mình sẽ có lợi thế.
Khách hàng hài lòng sẽ mang lại các lợi ích sau: Thứ nhất, khi khách hàng hài lòng, họ sẽ tiếp tục sử dụng sản phẩm và dịch vụ của công ty và khuyến khích những người khác sử dụng chúng. Điều này sẽ giúp doanh nghiệp mở rộng mạng lưới khách hàng của mình, mang lại lợi nhuận to lớn và giảm chi phí quảng cáo. Theo nghiên cứu thị trường, chi phí thu hút thêm khách hàng cao hơn chi phí giữ chân khách hàng (Nguyễn Thi Hoàng Anh, 2019). Khi khách hàng hài lòng, họ sẽ thân thiện và tin tưởng vào doanh nghiệp.
Họ sẽ trở thành khách hàng thân thiết và quan tâm đến các sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp. Điều này giúp doanh nghiệp thu thập thông tin hữu ích về khách hàng để cải thiện và cải thiện. 7 8 Ngoài ra, để theo dõi sự hài lòng của khách hàng, các doanh nghiệp cũng cần thực hiện các cuộc khảo sát và nghiên cứu với một số lượng lớn khách hàng. Điều này là do nhu cầu của khách hàng luôn thay đổi, vì vậy việc đánh giá sự hài lòng của khách hàng cũng thay đổi Đo lường mức độ hài lòng của khách hàng mang lại nhiều ý nghĩa: doanh nghiệp có thể biết mình đã làm tốt đến đâu và đánh giá những khía cạnh tốt và xấu để cải thiện sự hài lòng của khách hàng.
Để cải thiện khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, hãy xem xét mức độ hài lòng của khách hàng so với các đối thủ cạnh tranh. Tóm lại, làm hài lòng khách hàng là mục tiêu quan trọng vì khách hàng là người trực tiếp tạo ra doanh thu cho công ty. Tuy nhiên, thực hiện điều này là vô cùng khó khăn và nếu không thực hiện điều này đúng cách, sẽ có hậu quả. Sự hài lòng của khách hàng ảnh hưởng đáng kể đến mục tiêu phát triển của tổ chức hoặc doanh nghiệp.
Một yếu tố quan trọng để nâng cao chất lượng dịch vụ, giữ vững lòng trung thành của khách hàng và nâng cao khả năng cạnh tranh của công ty là sự thỏa mãn của khách hàng. Khách hàng được thỏa mãn là rất quan trọng để một công ty thành công và giữ vững vị thế của mình trên thị trường (Trần Xuân Thành, 2020).2 Phân loại sự hài lòng của khách hàng Theo một số nhà nghiên cứu có thể phân loại sự hài lòng của khách hàng thành 3 loại và chúng có sự tác động khác nhau đến các nhà cung cấp dịch vụ: - Hài lòng tích cực (Demanding customer satisfaction) - Hài lòng ổn định (Stable customer satisfaction - Hài lòng thụ động (Resigned customer satisfaction) Căn cứ vào phản ứng tinh thần khi nhu cầu của khách hàng được đáp ứng có thể phân chia sự hài lòng của khách hàng theo các lo ại dưới đây: thõa mãn, vui vẻ, giải thoát, mới lạ, ngạc nhiên mừng rỡ. Các trạng thái đều là sự hài lòng của khách hàng nhưng lại có sự khác biệt rất lớn. Căn cứ vào các tầng lớp khác nhau của hệ thống kinh doanh tiêu thụ - Sự hài lòng đối với doanh nghiệp - Sự hài lòng với hệ thống kinh doanh tiêu thụ thị trường - Sự hài lòng về sản phẩm, dịch 8 9 - Sự hài lòng về nhân viên - Sự hài lòng về hình ảnh và môi trường Trong các phương diện hài lòng của khách hàng thì sự hài lòng về sản phẩm và dịch vụ là cơ bản nhưng cũng không vì thế mà coi nhẹ những ý kiến nhận xét đánh giá của khách hàng về các phương diện khác.
Căn cứ vào giai đoạn phát triển khác nhau trong quá trình mua, có thể phân loại sự hài lòng của khách hàng thành bốn loại như sau: Sự hài lòng trước khi mua, sự hài lòng khi mua hàng, sự hài lòng khi sử dụng, sự hài lòng sau khi sử dụng. Như vậy, chỉ khi suy nghĩ toàn diện về nhu cầu của khách hàng, ta mới có thể tạo ra được cảm giác hài lòng hoàn toàn ở khách hàng. Căn cứ trên cơ sở tâm lý hành vi có thể phân loại sự hài lòng của khách hàng thành ba loại: Hài lòng tích cực: đây là sự hài lòng mang tính tích cực và được phản hồi thông qua các nhu cầu sử dụng ngày càng tăng lên đối với nhà cung cấp dịch vụ. Đối những khách hàng có sự hài lòng tích cực, họ và nhà cung cấp sẽ có mối quan hệ tốt đẹp, tín nhiệm lẫn nhau và cảm thấy hài lòng khi giao dịch.
Hơn thế, họ cũng hi vọng nhà cung cấp dịch vụ sẽ có đủ khả năng đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của mình. Chính vì vậy, đây là nhóm khách hàng mà nhà cung cấp dịch vụ càng nỗ lực cải tiến chất lượng dịch vụ ngày càng trở nên hoàn thiện hơn (Nusrat, 2019; Zeithaml and Bitner, 2000). Hài lòng ổn định: đối với những khách hàng có sự hài lòng ổn định, họ sẽ cảm thấy thoải mái và hài lòng với những gì đang diễn ra và không muốn có sự thay đổi trong cách cung cấp dịch vụ của ngân hàng. Vì vậy, những khách hàng này tỏ ra dễ chịu, có sự tin tưởng cao đối với ngân hàng và sẵn lòng tiếp tục sử dụng dịch vụ của ngân hàng (Ayinaddis và cộng sự, 2023).
Hài lòng thụ động: những khách hàng có sự hài lòng thụ động ít tin tưởng vào ngân hàng và họ cho rằng rất khó để ngân hàng có thể cải thiện được chất lượng dịch vụ và thay đổi theo yêu cầu của mình. Họ cảm thấy hài lòng không phải vì ngân hàng thỏa mãn hoàn toàn nhu cầu của họ mà vì họ nghĩ rằng sẽ không thể nào yêu cầu ngân hàng cải thiện tốt hơn nữa. Vì vậy, họ sẽ không tích cực đóng góp ý kiến hay tỏ ra thờ ơ với những nỗ lực cải tiến của ngân hàng. Căn cứ trên cơ sở cấu trúc sự hài lòng theo Golam (2020) có thể chia sự hài lòng của khách hàng thành hai loại: hài lòng bộ phận và hài lòng tổng thể.
Ngoài 9 10 việc phân loại sự hài lòng của khách hàng thì mức độ hài lòng cũng ảnh hưởng rất lớn đến hành vi khách hàng. Chỉ những khách hàng có mức độ hài lòng cao nhất "rất hài lòng" thì họ chắc chắn sẽ là những khách hàng trung thành và luôn ủng hộ ngân hàng. Như vậy, sự hài lòng của khách hàng là mức độ của trạng thái cảm giác của một người bắt nguồn từ việc so sánh kết quả thu được từ việc tiêu dùng sản pham/dịch vụ với những mong đợi về sản pham/ dịch vụ đó.2 Tổng quan về dịch vụ ngân hàng số 2.1 Khái niệm chất lượng Chất lượng là một khái niệm quen thuộc với loài người ngay từ những thời cổ đại, tuy nhiên chất lượng cũng là một khái niệm gây nhiều tranh cãi. Tùy theo đối tượng sử dụng, từ "chất lượng" có ý nghĩa khác nhau.
Người sản xuất coi chất lượng là điều họ phi làm để đáp ứng các qui định và yêu cầu do khách hàng đặt ra, để được khách hàng chấp nhận. Chất lượng được so sánh với chất lượng của đối thủ cạnh tranh và đi kèm theo các chi phí, giá cả. Do con người và nền văn hóa trên thế giới khác nhau, nên cách hiểu của họ về chất lượng và đảm bảo chất lượng cũng khác nhau (Parasuraman và cộng sự, 1985; 1988). Nói như vậy không phải chất lượng là một khái niệm quá trừu tượng đến mức người ta không thể đi đến một cách diễn giải tương đối thống nhất, mặc dù sẽ còn luôn luôn thay đổi.
Tổ chức Quốc tế về Tiệu chuẩn hóa ISO, trong dự thảo DIS 9000:2000, đã đưa ra định nghĩa sau: Chất lượng là khả năng của tập hợp các đặc tính của một sản phẩm, hệ thống hay qúa trình để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan. Ở đây yêu cầu là các nhu c và mong đợi được công bố, ngụ ý hay bắt buộc theo tập quán.2 Khái niệm dịch vụ Dịch vụ (DV) là một lĩnh vực kinh tế lớn ngày nay, đặc biệt đối với nền kinh tế toàn cầu đang trên đà phát triển trên khắp thế giới. Xã hội càng phát triển, trình độ chuyên môn hoá và phân công lao động càng cao thì lĩnh vực DV càng phát triển để đáp ứng nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng. Nói cách khác, DV sinh ra để đáp ứng nhu cầu và mong muốn của khách hàng.