Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu: lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu: bằng các cơ sở lý thuyết nền về: hành vi người tiêu dùng, quy trình quyết định mua hàng, các yếu tố ảnh hưởng đến ý định lựa chọn sản phẩm làm đẹp của người tiêu dùng, các khái niệm về sản phẩm kềm Nghĩa, tác giả đưa ra mô hình nghiên cứu của đề tài và các giả thuyết nghiên cứu. 7 Chương 3: Phương pháp nghiên cứu: chương này trình bày phương pháp được sử dụng để nghiên cứu đề tài: quy trình nghiên cứu, các phương pháp nghiên cứu: định tính, định lượng, mô hình nghiên cứu và đo lường các khái niệm nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu: trình bày kết quả nghiên cứu, mô tả mẫu khảo sát, kết quả đánh giá độ tin cậy thang đo, kết quả phân tích nhân tố, mô hình hồi quy đo lường tác động của các yếu tố đến chọn mua sản phẩm Kềm Nghĩa của khách hàng nữ tại TP.HCM và thảo luận kết quả nghiên cứu đạt được.
Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị: trình bày các kết luận và kiến nghị của tác giả đối với nhà quản trị Kềm Nghĩa. Đưa ra những hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo. 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Khái niệm và đặc điểm sản phẩm chăm sóc móng 2.
Tổng quan về ngành chăm sóc móng Theo trang nailartjournal.com, ngành chăm sóc móng tay là một hệ thống bao gồm chăm sóc da và móng tay, các trị liệu và phương pháp y tế, kỹ thuật sơn vẽ và các phụ kiện móng giả khác. Cách đây 3000 năm người Ai Cập và Trung Quốc cổ không biết đến các chăm sóc móng như hiện tại, họ chỉ phủ lên móng tay các tông màu sáng. Cách đây 600 năm ở Trung Quốc, một số một người giàu có thích sơn móng của họ bằng vàng hoặc bạc. Ở triều đại nhà Minh, phụ nữ quý tộc sơn móng tay màu đen hoặc đỏ sáng và sau đó đeo móng nhọn kim loại nhằm làm dài móng của họ, để thể hiện địa vị xã hội của họ.
Đầu thế kỷ 19, xu hướng ở Mỹ là móng tay ngắn và hình hạnh nhân. Phụ nữ sử dụng dầu thơm và đánh bóng móng bằng vải mềm. Chăm sóc móng được thực hiện bằng cách sử dụng các dụng cụ kim loại, kéo và các axit khác nhau. Đến những năm 20 của thế kỷ 20, khi ngành công nghiệp ô tô phát triển ra loại sơn mới, loại sơn này cũng thích hợp để sử dụng cho móng.
Màu sơn hồng được ra đời năm 1925 và ngay lập tức trở nên phổ biến. Sau việc khám phá ra nước chùi móng tay ngành công nghiệp này phát triển nhanh hơn bao giờ. Anh em Joseph, Charles Revsoni đã thành lập ra công ty Revlon, là công ty sản xuất nước sơn móng dựa trên sắc tố, không phải sơn. Năm 1937 ở Mỹ một bằng phát chế được trao để chứng nhận sản phẩm làm khỏe móng.
Năm 1950, nhánh chăm sóc móng là một trong những nhánh mạnh nhất của ngành công nghiệp sắc đẹp. Khái niệm cơ bản về chăm sóc móng được giảng dạy rộng rãi bởi những chuyên gia làm đẹp và thợ cắt tóc. Những năm 70 là giai đoạn của móng giả phát triển. Ngày nay, ngành chăm sóc móng đã vươn tới mức độ nghệ thuật và là phần không thể tách rời của mọi cuộc sống của người phụ nữ thành công.
Theo danh mục sản phẩm của một số hãng bán lẻ sản phẩm chăm sóc sắc đẹp thì sản phẩm chăm sóc móng thuộc vào ngành chăm sóc sắc đẹp, cùng với sản phẩm trang điểm, sản phẩm chăm sóc da, nước hoa, sản phẩm chăm sóc cơ thể, sản phẩm chăm sóc tóc. 9 Nói về ngành chăm sóc móng phải nói đến việc chăm sóc móng tại các salon, spa nơi cung cấp các dịch vụ chăm sóc sắc đẹp nói chung. Đi theo các dịch vụ này là sự ra đời của các sản phẩm dưỡng móng, dụng cụ làm móng, các sản phẩm làm đẹp móng với rất nhiều chủng loại. Sản phẩm chăm sóc móng Theo quy định 1223/2009 của EU (nguồn europa.eu), sản phẩm móng và da tay chân (nail and cuticle products) được xếp vào sản phẩm làm đẹp (cosmetics products).
Trong sản phẩm móng và da tay chân, được phân thành 4 loại: (1) sản phẩm tẩy móng, (2) sản phẩm chăm sóc/ làm cứng móng, (3) sản phẩm keo móng, (4) các sản phẩm móng và da khác. Chăm sóc móng tay liên quan đến việc chăm sóc móng tay và móng chân. Bên cạnh yếu tố thẩm mỹ và sự sạch sẽ, chăm sóc móng rất quan trọng vì nó giúp ngăn ngừa các vấn đề móng, chẳng hạn như nhiễm trùng nấm móng và móng khóe chân mọc vào trong. Theo tạp chí về ngành móng (www.com), sản phẩm chăm sóc móng được phân thành 7 nhóm sau đây: Những sản phẩm nghệ thuật trang trí móng: dụng cụ sơn bằng khí, các vật liệu trang trí móng, trang sức cho móng Các loại nước sơn: keo dán móng giả, sơn móng tay, sản phẩm làm khô nước sơn, sản phẩm dưỡng móng.
Các sản phẩm chăm sóc móng tự nhiên: sản phẩm sơn lót, sản phẩm sơn phủ, sản phẩm dưỡng móng, sản phẩm làm ấm tay, dưỡng da tay, hệ thống làm móng tay, sản phẩm điều trị và làm khỏe móng. Sản phẩm và thiết bị móng chân: dụng cụ chà gót bằng máy và bằng tay, gác ngón, kem gót chân, dũa móng chân, các dụng cụ chăm sóc móng, hệ thống làm móng chân, các vật dụng bàn ghế phục vụ chăm sóc móng, tất chân hở. 10 Sản phẩm nâng cao chuyên nghiệp: aceton và sản phẩm chùi rửa móng, móng giả, móng giả màu, gel màu, lụa đắp móng, giấy tạo form móng tay giả, gel, hồ dán, chất xúc tác, sản phẩm làm sạch móng, sơn dưỡng Các sản phẩm và thiết bị an toàn, vệ sinh như: máy lọc không khí, sản phẩm kháng nấm, chất khử trùng , nồi hấp, găng tay, vệ sinh tay, sản phẩm khử trùng bề mặt cứng, thực hiện các sản phẩm khử trùng, kính an toàn, hệ thống và thiết bị thông gió. Các dụng cụ chăm sóc móng: cọ móng giả, sủi da, kềm cắt da, kềm cắt móng, dũa, nhíp, bấm móng… 2.
Sản phẩm nghiên cứu Đứng trên phạm vi nghiên cứu sản phẩm Kềm Nghĩa, bài nghiên cứu chỉ đề cập sản phẩm chăm sóc móng gồm 2 nhóm sản phẩm chính sau: dụng cụ chăm sóc móng và sắc đẹp gồm kềm (kềm cắt da và kềm cắt móng), sủi da, bấm móng, kéo, dũa móng tay, nhíp; và sơn móng tay. Hai nhóm sản phẩm này thuộc về phân nhóm Các loại nước sơn và các dụng cụ chăm sóc móng (theo phân loại của Nailsmagazine); sản phẩm và da khác (theo phân loại của EU) đã được đề cập trong phân loại sản phẩm chăm sóc móng. Việc chăm sóc móng tại Việt Nam Ngành chăm sóc móng tại Việt Nam phát triển theo kiểu bộc phát và hiện không được kiểm soát chặt chẽ từ việc đào tạo cho đến các biện pháp bảo vệ quyền lợi cho khách hàng khi đi làm móng. Tại Việt Nam chưa có một ban ngành riêng cho ngành thẩm mỹ như tại Mỹ trong việc kiểm soát việc cấp bằng hành nghề cũng như hoạt động kinh doanh trong ngành.
Trong vài năm trở lại đây, nghề móng phát triển mạnh ở các thành phố lớn tại Việt Nam đặc biệt là TP. Theo nghiên cứu của W&S research (2013), “Nghiên cứu về thói quen chăm sóc móng của phụ nữ Việt”, bài nghiên cứu thực hiện nghiên cứu trên 999 mẫu là nữ, tuổi 11 từ 22 trở lên ở các tỉnh thành của Việt Nam nhằm tìm hiểu thói quen làm đẹp và chăm sóc móng của nữ giới. Có đến 977 trong số 999 phụ nữ từ 22 tuổi trở lên, tập trung trong nhóm nhân viên văn phòng cho biết có làm đẹp trong vòng 3 tháng qua. Cắt, tạo kiểu tóc, trang điểm và chăm sóc mặt là ba hoạt động phổ biến nhất.
Chăm sóc móng là hoạt động làm đẹp đứng vị trí thứ 4, chiếm tỷ lệ 67,1 % trong số các phụ nữ có quan tâm chăm sóc sắc đẹp. Về chăm sóc móng, đa số các phụ nữ có xu hướng đến tiệm nhiều hơn tự chăm sóc tại nhà. Khi được hỏi lý do không đến các tiệm làm móng, nhóm này cho biết họ thích tự chăm sóc móng tay của mình. Thứ hai là do lo ngại về mức độ vệ sinh của các dụng cụ cắt tỉa móng tại tiệm.
Tuy nhiên, có đến 86,2% nói rằng họ sẽ đi thử trong thời gian sắp tới. Tiệm làm móng và tiệm cắt/ uốn tóc là hai lựa chọn hàng đầu khi nhắc đến các dịch vụ chăm sóc móng ở Việt Nam. Trung bình, mỗi lần ghé tiệm, hơn 1/4 các khách hàng nữ cho biết thường chi từ 30,000 –50,000 VND riêng cho việc chăm sóc móng. Các dịch vụ được ưa chuộng nhất là cắt tỉa móng tay/ móng chân và sơn móng.
Vẽ và trang trí móng cũng được ưa chuộng, nhưng kém phổ biến hơn sơn móng thông thường. Cứ 10 người sử dụng sơn móng tay được hỏi thì có 4 người sử dụng các sản phẩm có sẵn tại tiệm, và 6 người tự mua các loại sơn móng tay đến tiệm để sơn. Giá mua các loại sơn móng tay khá đa dạng, nhưng 50,001 –70,000 VND và 70,001 –100,000 VND là hai mức giá phổ biến nhất. Mặc dù hơn 80% nhóm khách hàng nữ có sử dụng dịch vụ sơn móng khi đến tiệm, chỉ có 38,6% đồng ý rằng họ sơn móng rất thường xuyên.
Những người sơn móng thường xuyên rõ ràng có chú trọng nhiều hơn đến chất lượng của các loại nước sơn, khi có đến 69,3% các phụ nữ trong nhóm này cho biết họ thường sử dụng các sản phẩm sơn móng có thương hiệu hay xuất xứ rõ ràng. Ngành sản xuất và thương mại sản phẩm chăm sóc móng tại Việt Nam Theo tổng hợp thông tin, ngành sản xuất kềm ở Việt Nam phát triển đầu những năm 90 của thể kỷ 20, đi đầu phải kể đến nhà sản xuất như Kềm Nghĩa, Bali, sao Vina, Francia. Tiếp đến có các thương hiệu như Kềm 9999, Kềm Khanh, Kềm DH, Kềm Lâm, Kềm 12 Việt … Các nhà sản xuất bên cạnh phân phối các sản phẩm mang tên thương hiệu mình thì cũng thực hiện gia công cho các đối tác nước ngoài. Đa số các nhà sản xuất kềm có năng lực sản xuất nhỏ, tiềm lực về tài chính và năng lực cạnh tranh không cao.