MỞ ĐẦU Nitrophenol là một trong những chất gây ô nhiễm trong nƣớc thải công nghiệp. Nhiều phƣơng pháp đã đƣợc nghiên cứu để phân hủy chúng nhƣ: phân hủy quang hóa, than hoạt tính hấp phụ, lọc màng rắn, phân hủy sinh học, phƣơng pháp khử xúc tác,…Mặt khác, para-aminophenol (p-AP) là một chất trung gian quan trọng cho sản xuất các thuốc giảm đau và các loại thuốc hạ sốt. Nó có thể đƣợc tổng hợp bằng việc hydro hóa có xúc tác từ p-nitrophenol (p-NP) trong ethanol ở nhiệt độ tƣơng đối cao và áp suất hydro cao. Nhƣ vậy, quá trình chuyển p-NP thành p-AP trong dung dịch nƣớc thải là thú vị vì nó tiến hành trong điều kiện nhẹ và quá trình này có thể đƣợc sử dụng cho xử lý nƣớc thải chứa chủ yếu là p-NP không có các thành phần phức tạp.
Sử dụng hạt nano bạc (AgNP) nhƣ một chất xúc tác đang đƣợc quan tâm nhiều do đặc tính xúc tác của nó cho nhiều phản ứng hữu cơ. Một số nghiên cứu đã đƣợc báo cáo về việc chế tạo và thử hoạt tính xúc tác của AgNP. Tuy nhiên, xúc tác nano kim loại lại hạn chế sử dụng do đặc tính xúc tác của nó chƣa đủ cao do xu hƣớng co cụm thành các hạt lớn sẽ làm giảm hoạt tính xúc tác cho nhiều phản ứng hóa học. Một trong những quy trình đang đƣợc áp dụng là cố định hạt nano kim loại trên chất mang rắn nhƣ chất vô cơ dạng cầu.
Cấu trúc của chất mang và hoạt tính xúc tác của AgNP cố định trên chất mang đóng vai trò quan trọng trong việc xác định tính hiệu quả của chất xúc tác. Một yếu tố quan trọng khác là khả năng di chuyển của chất phản ứng trên AgNP hoạt động. Vì vậy, cần phải nghiên cứu, phát triển chất xúc tác mới mang lại hiệu quả cao cũng nhƣ có thể dễ dàng thu hồi ở giai đoạn cuối phản ứng. Để giải quyết vấn đề này, việc phân tán AgNP trên vật liệu mao quản trung bình SBA, để tạo ra chất xúc tác với những ƣu điểm: (i) diện tích bề mặt cao và cấu trúc xốp lớn của chất mang silica chứa các tâm xúc tác, các chất phản ứng có thể di chuyển vào xúc tác xốp tiếp cận tâm xúc tác qua chất xúc tác hoạt động; (ii) sự tăng cƣờng của AgNP bên trong các mao quản của SBA giúp ngăn chặn sự co cụm và thẩm thấu của AgNP; (iii) chất xúc tác này có thể dễ dàng thu hồi sau phản ứng.
Với hệ xúc tác này, sử dụng cho quy trình xử lý nƣớc thải công nghiệp dệt nhuộm 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tổng hợp, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ và đặc biệt là trong các nhà máy sản xuất thuốc nổ quân sự chứa nhiều chất độc hại nhƣ 2,4-đinitrophenol, 2-metyl-4,6- đinitrophenol, 2-nitrophenol, 4-nitrophenol, pentaclophenol, phenol và 2,4,6- triclophenol rất cần thiết. Trên cơ sở đó, đề tài đã tiến hành: “Nghiên cứu tổng hợp hệ xúc tác nano bạc phân tán trên vật liệu mao quản trung bình (SBA) sử dụng cho quá trình khử para-nitro phenol trong nƣớc thải”. 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1- TỔNG QUAN 1. Vật liệu mao quản trung bình (MQTB) 1.
Giới thiệu vật liệu mao quản trung bình (MQTB) Vật liệu rắn xốp có diện tích bề mặt riêng lớn và xốp nên nó đƣợc ứng dụng rộng rãi trong công nghiệp, kỹ thuật để làm chất hấp phụ và chất xúc tác. Theo danh pháp IUPAC, dựa trên kích thƣớc mao quản, vật liệu rắn xốp đƣợc chia làm ba loại: Vi mao quản (đƣờng kính mao quản d < 2nm), MQTB (2 < d < 50nm) và mao quản lớn (d > 50 nm). d < 2nm 2 < d < 50nm d > 50nm Vi mao quản Mao quản trung bình Mao quản lớn Hình 1. Phân loại kích thƣớc mao quản của IUPAC [8] Hai vật liệu tiền thân của các vật liệu mao quản trung bình là Aluminophosphat và sét Pillar.
Aluminophotsphat (Al-P) lần đầu tiên đƣợc tổng hợp vào năm 1988 có tên gọi là PVI-5 với vòng oxi đạt đến 18, đƣờng kính mao quản 12Å. Do tính bền nhiệt và thủy nhiệt không cao nên cho đến nay vật liệu Al-P vẫn chƣa đƣợc ứng dụng rộng rãi. Sét Pillar là vật liệu sét tự nhiên có cấu trúc tinh thể dạng lớp. Khoảng cách giữa các lớp từ 9-10Ao, song do tính biến dạng của sét nên ngƣời ta có thể chèn giữa các lớp (bằng kĩ thuật trao đổi ion) các kim loại vừa có tính xúc tác, vừa bền và có kích thƣớc đủ lớn để nới rộng khoảng cách giữa các lớp.
Vật liệu này có thời điểm là hy vọng của nhiều nhà khoa học song do độ bền nhiệt, hoạt tính xúc tác thấp và đặc biệt là không dễ tạo ra vật liệu nano mao quản đồng nhất nên sét Pillar vẫn chƣa trở thành xúc tác thƣơng mại [7]. 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đặc tính quan trọng nhất của các vật liệu mao quản trung bình là ở chỗ chúng có mao quản đồng nhất, kích thƣớc mao quản lớn, bề mặt riêng lớn, do đó chứa nhiều tâm hoạt động trên bề mặt nên dễ dàng tiếp xúc với tác nhân phản ứng. Trên thế giới, vật liệu phân tử MQTB đang đƣợc nghiên cứu và ứng dụng nhiều theo các hƣớng sau: Kết tinh lại mao quản bằng chất thích hợp để có thể kiểm soát kích thƣớc mao quản; trát hay tẩm lên mao quản một lớp vật liệu tinh thể làm chất xúc tác để có thể phát triển bề mặt của vật liệu xúc tác; tinh thể hóa tƣờng vô định hình; thay thế đồng hình silic bằng các kim loại chuyển tiếp để có thể thay đổi kích thƣớc mao quản và lực axit [22]. Phân loại vật liệu MQTB Phân loại theo cấu trúc Cấu trúc lục lăng (hexagonal): MCM-41, SBA-15,… Cấu trúc lập phƣơng (cubic): MCM-48, SBA-16,….
Cấu trúc lớp (laminar): MCM-50,… Cấu trúc không trật tự (disordered): KIT-1, L3,… a - Lục lăng b - Lập phƣơng c - Lớp Hình 1. Các dạng cấu trúc vật liệu MQTB [39] Phân loại theo thành phần Vật liệu MQTB chứa silic nhƣ: MCM-41, Al-MCM-41, Ti-MCM- 41, Fe-MCM-41, MCM-48, SBA-15,…. Vật liệu MQTB không chứa silic nhƣ: ZrO2, TiO2, Fe2O3,. Một số vật liệu mao quản trung bình Vật liệu cấu trúc lục lăng Năm 1992 các nhà nghiên cứu công ty Mobil Oil lần đầu tiên sử dụng chất tạo cấu trúc tinh thể lỏng để tổng hợp họ vật liệu rây phân tử MQTB mới có tên gọi 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Trong đó hai vật liệu thuộc họ này đƣợc nghiên cứu rộng rãi nhất là MCM-41 và MCM-48. “MCM” là chữ viết tắt của Mobile composition of Matter. MCM-41 có cấu trúc mao quản một chiều sắp xếp hình lục lăng, đƣờng kính mao quản từ 1,5 - 8nm. Nhóm không gian của MCM-41 của P6mm (hình 1.3), thành mao quản là vô định hình và tƣơng đối mỏng (0,6 - 1,2nm).
Sự phân bố kích thƣớc lỗ là rất hẹp chỉ ra sự trật tự cao của cấu trúc. Do mao quản chỉ bao gồm MQTB mà không có vi mao quản bên trong nên chỉ khuếch tán qua kênh mao quản theo một chiều. Diện tích bề mặt riêng của MCM-41 là khá lớn khoảng 1000-1200 m2/g. Hạn chế của vật liệu này là độ bền thủy nhiệt chƣa cao do thành khá mỏng và vô định hình [6].
Cấu trúc mao quản lục lăng của MCM-41 [8] Vật liệu cấu trúc lập phƣơng - KIT-5 (Korean Institude of Technology) KIT-5 là dạng silica MQTB trật tự với dạng cấu trúc lập phƣơng tâm mặt Fm3m. Giống với SBA-16, KIT-5 có thể tổng hợp trong hệ bậc ba gồm nƣớc, butanol và chất hoạt động bề mặt không ion F127. Tuy nhiên, điểm khác biệt ở chỗ MQTB trong KIT-5 chỉ liên kiết với một MQTB khác và sắp xếp theo kiểu lập phƣơng tâm mặt (hình 1. Cấu trúc lập phƣơng tâm mặt của KIT-5 [8] 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - KIT-6 và MCM-48 Là vật liệu có cấu trúc 3D thuộc nhóm không gian Ia3d (hình 1.
Tổng hợp MCM-48 gần giống với MCM-41 trong môi trƣờng kiềm với chất hoạt động bề mặt genime. Độ dày thành mao quản của MCM-48 khoảng 0,8-1nm. Kích thƣớc mao quản cũng xấp xỉ với MCM-41. KIT-6 có thể đƣợc tổng hợp theo phƣơng pháp bậc ba gồm nƣớc, butanol và P123.
Độ dày thành mao quản cũng nhƣ kích thƣớc mao quản tƣơng tự nhƣ SBA-15. Không gian Ia3d của MCM-48 [8] 1. Vật liệu họ SBA (Santa Barbara) 1. Khái quát Năm 1998, Zhao và cộng sự [16] đã tổng hợp đƣợc họ vật liệu mới SBA-n, có cấu trúc lục lăng 2D và 3D (SBA-2,3,12,15) hoặc lập phƣơng (SBA-1,6,16), trong đó nổi bật là SBA-15 và SBA-16 [39].
Hai vật liệu này đƣợc tổng hợp sử dụng chất tạo cấu trúc là chất hoạt động bề mặt copolime 3 khối Pluronic (P123: m = 30 và n = 70; F127: m = 106 và n = 70) SBA-16 là silica MQTB với kích thƣớc mao quản từ 4-15nm dạng lồng sắp xếp theo kiểu lập phƣơng tâm khối 3 chiều thuộc nhóm không gian Im3m. Giống nhƣ SBA-15, SBA-16 đƣợc tổng hợp trong môi trƣờng axit với sử dụng chất hoạt động bề mặt không ion Pluronic và do đó cũng tạo ra mao quản phụ trong thành. Cấu trúc của SBA-16 đã đƣợc nghiên cứu, trong đó mỗi MQTB (sơ cấp) đƣợc kết nối với 8 MQTB (thứ cấp) bên cạnh (hình 1. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Kết nối giữa hốc và 8 cửa sổ mao quản [16] SBA-15 là MQTB ở dạng lục lăng cùng nhóm không gian P6mm với MCM- 41 nhƣng đƣợc tổng hợp trong môi trƣờng axit (MCM-41 đƣợc tổng hợp trong môi trƣờng kiềm) và sử dụng chất hoạt động bề mặt không ion. Tuy nhiên, do tính chất hoạt động bề mặt loại Pluronic, vật liệu SBA-15 so với vật liệu MCM-41 có sự khác biệt quan trọng về mao quản và tính chất hấp phụ. Trong cách tổng hợp thông thƣờng, SBA-15 có thành mao quản dày hơn nhƣng vẫn là vô định hình. Diện tích bề mặt BET của SBA-15 thƣờng thấp hơn MCM-41 và do thành mao quản dày nên chúng có độ bền thủy nhiệt lớn hơn.
Cũng do loại chất hoạt động bề mặt Pluronic, SBA-15 có mao quản thứ cấp bên trong thành, bao gồm vi mao quản và mao quản trung bình nhỏ hơn. Kênh mao quản chính song song của SBA-15 đƣợc kết nối với nhau qua các vi lỗ và các mao quản trung bình nhỏ hơn trong thành mao quản [23] (hình 1. Mô hình mao quản sắp xếp Hình 1. Sự kết nối các mao quản sơ cấp theo lục lăng [23] qua các mao quản thứ cấp của SBA-15 [23] 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Sự hình thành SBA-n Trong tổng hợp vật liệu mao quản trung bình, chất hoạt động bề mặt đóng một vai trò rất quan trọng và có ý nghĩa quyết định đến sự hình thành cấu trúc của vật liệu cuối cùng.