MỞ ĐẦU Nước ta có vị trí địa lý rất đặc biệt, với tổng chiều dài bờ biển hơn 3260km, dọc theo đó là các ngư trường có khả năng khai thác quanh năm, hơn nữa với trên một triệu ha nuôi trồng, ngành thủy sản là một lợi thế của biển Việt Nam. Theo Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản, ngành thủy sản Việt Nam ngày càng khẳng định vị trí quan trọng trong nghề cá thế giới. Năm 2019 GDP thủy sản theo giá thực tế đạt 205.252 tỉ đồng chiếm 3,4% GDP toàn quốc và chiếm 24,4% GDP toàn ngành nông nghiệp, tăng trưởng 6,3% so với năm 2018. Với những kết quả đã đạt được, Việt Nam đã vươn lên vị trí thứ 5 về xuất khẩu, đứng thứ 3 về sản lượng nuôi trồng thủy sản (sau Trung Quốc và Ấn Độ) và đứng thứ 13 về sản lượng khai thác hải sản trên toàn thế giới.
Với bờ biển dài hơn 305 km, sản lượng hải sản khai thác hàng năm trên dưới 250.000 tấn, Bà Rịa -Vũng Tàu là một trong những trung tâm chế biến thủy hải sản lớn của cả nước. Nhờ đó Bà Rịa -Vũng Tàu được xem là một nơi có nguồn nguyên liệu về cá trích và cá lồng phong phú nhất, qua đó thúc đẩy phát triển các sản phẩm có chứa hàm lượng dinh dưỡng cao phục vụ cho đời sống con người. Ngày nay, khi đời sống vật chất ngày một cải thiện thì yêu cầu của xã hội đối với sức khỏe của từng cá nhân càng lúc càng cao. Và các vấn đề về dinh dưỡng luôn được ưu tiên lên hàng đầu, người ta luôn tìm đến những thực phẩm có chứa các hàm lượng dinh dưỡng cao như protein, lipid, chất khoáng để bổ sung vào cơ thể.
Trong lĩnh vực dinh dưỡng, chúng ta đã nghiên cứu và chứng minh cá là một món ăn có chứa nhiều protein, chất khoáng quan trọng và các loại vitamin, đặc biệt nhiều vitamin A và D trong gan cá và một số vitamin nhóm B. 1 Hơn thế nữa, cá có giá trị dinh dưỡng cao vì thành phần dinh dưỡng chứa nhiều chất đạm, nhiều DHA và EPA, ít cholesterol [5], trong đó có cá trích và cá lồng. Lượng protein trong cá trích và cá lồng vào khoảng 19,8% đến 28%, tương đối cao so với các loài cá nước ngọt khác (khoảng từ 16-17% tùy loại cá). Các protein của cá dễ tiêu hóa và hấp thu hơn thịt.
Quan trọng hơn nữa là thành phần các protein trong cá trích và cá lồng vừa có chứa đầy đủ các acid amin cần thiết cho cơ thể lại vừa có tỷ lệ các acid amin thiết yếu (EAA) rất cân bằng và phù hợp với nhu cầu EAA của con người. Về chất béo, hàm lượng chất béo trong cá trích và các lồng ít hơn so với thịt nhưng chất lượng mỡ cá lại tốt hơn. Các acid béo không no có hoạt tính cao chiếm từ 50-70% trong tổng số các lipit gồm: oleic, linoleic, arachidonic, klupanodoic … Các acid béo này là chất quan trọng hỗ trợ cho nhiều cơ quan trong cơ thể như hệ thần kinh, hệ tuần hoàn. Nhiều nghiên cứu khoa học đã phát hiện rằng trong chất béo chưa bão hòa của cá tra, basa có chứa nhiều acid béo Omega-3 (DHA và EPA).
Đây là các acid béo quan trọng mà cơ thể chúng ta không thể tự tổng hợp được nên bắt buộc phải được cung cấp từ thức ăn. Với những ưu điểm và lợi ích to lớn từ nguồn cá trích và cá lồng cũng như giải quyết một số cấp thiết của cuộc sống như trên, vì vậy em được giao thực hiện đề tài “Nghiên cứu xử lý phụ phẩm mỡ cá của quá trình chế biến surimi tạo chế phẩm giàu EPA và DHA” nhằm tạo ra các chế phẩm sinh học có hoạt tính cao nhằm nâng cao sức khỏe của con người. 2 PHẦN I: TỔNG QUAN 1. Surimi Surimi (nghĩa là "thịt xay" trong tiếng Nhật) là một loại thực phẩm truyền thống có nguồn gốc từ cá của các nước châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc.
Cá nguyên liệu được tiến hành rửa, phi lê, xay nhỏ, băm nhuyễn và phối trộn các nguyên liệu phụ, định hình, xử lý nhiệt sẽ cho sản phẩm được gọi là surimi. Surimi là thịt cá được tách xương, rửa sạch, nghiền nhỏ, không có mùi vị và màu sắc đặc trưng, có độ kết dính vững chắc, là một chế phẩm bán thành phẩm, là một nền protein, được sử dụng rộng rãi làm nhiều sản phẩm gốc thủy sản khác. Tuỳ theo loại cá dùng làm Surimi khác nhau và dạng Surimi mong muốn mà Surimi có thành phần dinh dưỡng khác nhau. Theo Bảng thành phần dinh dưỡng trong thực phẩm (Food Nutrient Database 16-1) của Bộ Nông Nghiệp Hoa Kỳ (USDA), Surimi từ cá chứa khoảng 76% Nước, 15% Protein, 6,85% Carbohydrat, 0,9% Chất béo và 0,03% Cholesterol.
Surimi có hàm lượng Protein cao, Lipid thấp, không có Cholesterol và Glucid, dễ hấp thụ vào cơ thể. Protein của Surimi có khả năng trộn lẫn với các loại Protit khác, nâng cao chất lượng của các loại thịt khi trộn lẫn với thịt bò, thịt heo, hay thịt gà… 1. Chế biến surimi của cá trích và cá lồng 1. Cá trích Cá trích (danh pháp khoa học: Sardinella) là một chi cá biển thuộc chi cá xương, họ Cá trích (Clupeidae).1 Cá trích Cá trích là loại cá ít tanh, ăn rất lành, thịt trắng, ít mỡ ăn rất béo và là một trong các loại cá dễ đánh bắt nhất.
Cá trích là cá nhiều dầu và trong dầu cá có chứa rất nhiều Omega-3 thường được biết tới là dạng axit béo sản xuất ra DHA, một chất thiết yếu đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của não bộ, tăng cường sức khỏe não bộ. Omega-3 giúp điều chỉnh huyết áp. Omega-3 đem lại những bảo vệ tích cực đối với các bệnh nhân tim mạch. Cá trích là nguồn cung cấp dầu cá dồi dào, đặc biệt là giàu lượng axit béo Omega-3.
Ngoài ra cá trích còn cung cấp vitamin D rất tốt cho cơ thể. Cá trích phân bố ở vùng biển miền Trung Việt nam từ Quảng Nam trở vào Lagi (Hàm Tân – Bình Thuận) và Long Hải, Phước Hải của Bà Rịa Vũng Tàu. Cá lồng Với cá lồng, người ta sử dụng nhiều loại cá khác nhau, điển hình là cá trắm, cá mòi và cá basa. Ba loại cá được nuôi rộng rãi tại Bà Rịa-Vũng Tàu.
Cũng như được biết đến với hàm lượng Omega-3 cao. Cá trắm cỏ (danh pháp hai phần: Ctenopharyngodon idella) là một loài cá thuộc họ Cá chép (Cyprinidae), loài duy nhất của chi Ctenopharyngodon.2 Cá trắm cỏ Theo các chuyên gia, cá trắm có chứa nhiều chất dinh dưỡng tốt cho sức khỏe không những thế cá trắm còn được đánh giá là một loại thức ăn bổ dưỡng, ngon, quý, đặc biệt là với phụ nữ khi mang thai. Cá ba sa (tên khoa học Pangasius bocourti) còn có tên gọi là cá giáo, cá sát bụng, là loại cá da trơn trong họ Pangasiidae có giá trị kinh tế cao, được nuôi tập trung tại nhiều nước trên thế giới.3 Cá Basa Cá Basa là loại cá trắng, chứa nhiều các chất dinh dưỡng quan trọng cho cơ thể đặc biệt chúng có thể cung cấp nguồn protein chất lượng cao và chất béo lành mạnh (ví dụ nhưn axit béo omega-3). Chế biến surimi từ cá trích và cá lồng Với surimi được chuẩn bị từ thịt cá đã được phi lê sẵn sẽ cho ra các sản phẩm có chất lượng ổn định hơn.
Tuy nhiên, trong quá trình chuẩn bị thịt phi 5 lê, hiệu suất thu hồi thịt sẽ giảm do một phần thịt còn dính lại ở các phần xương. Việc sử dụng thịt cá còn nguyên xương sẽ làm cho sản phẩm surimi có chất lượng kém hơn. Vậy nên cá tươi phải được đem đi cắt đầu, bỏ nội tạng, rửa sạch. Bởi vì trong quá trình ép lấy thịt cá dịch lỏng trong các tế bào thần kinh, tủy và các thành phần còn sót lại trên xương như lá lách, thận, ruột, dạ dày…rất giàu enzym gây biến tính protein, mặc dù quá trình rửa có thể loại các enzym này nhưng không triệt để.
Nhưng hiệu suất thu hồi thịt trong trường hợp này cao hơn. Thành phần dinh dưỡng của cá trích và cá lồng thành phẩm (tính trên 100 g thành phẩm ăn được) Đại lượng Cá trích Cá basa Tổng năng lượng cung cấp (kcal) 489 170 Tổng lượng chất béo (g) 34,6 7,02 Chất béo chưa bão hòa (có EPA và 1,7 5,00 DHA) (g) Protein (g) 44,5 22,5 1. Tổng quan về Omega-3 và phân loại 1. Tổng quan vê Omega-3 Acid béo Omega−3, cũng được gọi là acid béo w−3 hoặc acid béo n- 3, là một acid béo không bão hòa nhiều nối đôi (PUFAs).
Các acid béo có hai đầu, một đầu là acid cacboxylic (-COOH), được coi là đầu mạch (chuỗi), nên được gọi là "alpha", và đầu methyl (-CH3), được coi là "đuôi" mạch (chuỗi), do đó gọi là "omega". Một trong những cách mà một axit được đặt tên là được xác định bởi vị trí của liên kết đôi đầu tiên, được tính từ đuôi, đó là, omega (ω-) hoặc n-end. Như vậy, trong acid béo omega-3, liên kết đôi đầu tiên nằm giữa nguyên tử cacbon thứ ba và thứ tư tính từ đuôi. Tuy nhiên, hệ thống danh pháp hóa học tiêu chuẩn (IUPAC) bắt đầu từ đầu carboxyl [2].
6 Ba loại acid béo omega-3 liên quan đến sinh lý học của con người là acid α-linolenic (ALA), được tìm thấy trong dầu thực vật, Docosapentaenoic Acide (DPA) được tìm thấy trong sữa mẹ, eicosapentaenoic acid (EPA) và docosahexaenoic acid (DHA), cả hai thường được tìm thấy trong các loại dầu sinh vật biển. Nguồn acid béo omega-3 động vật EPA và DHA bao gồm cá, trứng gà, dầu cá, mực và nhuyễn thể [3]. Các nguồn omega-3 PUFAs tự nhiên quan trọng nhất là từ biển sinh vật (cá, hải sản, tảo…), từ thực vật phù du biển, nhà sản xuất chính của omega-3 trong chuỗi dinh dưỡng[13]. Trong những năm qua, rất nhiều nghiên cứu đã được báo cáo về lipid.
Họ kết luận rằng PUFA trong dầu biển thường được tìm thấy dưới dạng chất béo trung tính, mặc dù chúng có thể tạo thành các loại khác của chất béo dưới dạng sáp este hoặc photpholipit. Ngoài ra, các nghiên cứu về sự phân bố vị trí của các axit béo trong chất béo trung tính của một số loại dầu cá đã chỉ ra rằng hầu hết PUFA được liên kết với vị trí sn-2 của xương sống glycerol[13]. Omega 3 quan trọng cho từ thai nhi cho tới người cao tuổi, cũng như nhu cầu là thường xuyên hàng ngày. Omega 3 được khuyên dùng hàng ngày và lâu dài cho trẻ em, phụ nữ mang thai, phụ nữ cho con bú, cho người dùng với nhu cầu làm đẹp da hoặc người cao tuổi và không mắc các bệnh mãn tính về tim mạch.
Trong cơ thể, EPA được chuyển hóa thành các hợp chất sinh học như prostaglandin, leucotrien có tác dụng hỗ trợ hệ tim mạch.