CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NƯỚC THẢI SINH HOẠT, NƯỚC THẢI CÓ HÀM LƯỢNG CHẤT HỮU CƠ CAO VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP XLNT BẰNG PHƯƠNG PHÁP SINH HỌC TRONG ĐIỀU KIỆN NHÂN TẠO 1. THÀNH PHẦN VÀ TÍNH CHẤT CỦA NƯỚC THẢI 1. Nguồn gốc, thành phần và số lượng nước thải Nước thải là nước đã được sử dụng cho các mục đích ăn uống, sinh hoạt, tắm rửa, vệ sinh nhà cửa,… của các khu dân cư, công trình công cộng, cơ sở dịch vụ,… Như vậy, nước thải được hình thành trong quá trình sinh hoạt của con người. Một số các hoạt động dịch vụ hoặc công cộng như bệnh viện, trường học, nhà ăn,… cũng tạo ra các loại nước thải có thành phần và tính chất tương tự như nước thải sinh hoạt.
Lượng nước thải tập trung của đô thị rất lớn. Trong quá trình sinh hoạt, con người xả vào hệ thống thoát nước một lượng chất bẩn nhất định, phần lớn là các loại cặn, chất hữu cơ, các chất dinh dưỡng. Ở nước ta, tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 7957:2008 có những quy định về lượng chất bẩn tính cho một người dân đô thị xả vào hệ thống thoát nước trong một ngày như bảng 1. Lượng chất bẩn một người trong một ngày xả vào hệ thống thoát nước Các đại lượng Khối lượng (g/người.ngày) Chất rắn lơ lửng 60 ÷ 65 BOD5 của nước thải đã lắng 30 ÷ 35 BOD5 của nước thải chưa lắng 65 Nitơ của muối amôni (N-NH4) 8 Phốt phát (P2O5) 3,3 - Clorua (Cl ) 10 Chất hoạt động bề mặt 2÷2,5 (Nguồn: TCVN 7957-2008: Thoát nước - Mạng lưới và công trình bên ngoài - Tiêu chuẩn thiết kế) Đặc trưng của nước thải sinh hoạt là hàm lượng chất hữu cơ lớn (từ 55 ÷ 65% tổng lượng chất bẩn), chứa nhiều vi sinh vật, trong đó có vi sinh vật gây bệnh.
Đồng thời trong nước thải còn có nhiều vi khuẩn phân huỷ chất hữu cơ cần thiết cho các quá trình chuyển hoá chất bẩn trong nước. Thành phần nước thải sinh hoạt phụ thuộc vào Học viên: Nguyễn Trung Hiếu Luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ Trang 11 Trường Đại học Xây dựng tiêu chuẩn cấp nước, đặc điểm hệ thống thoát nước, điều kiện trang thiết bị vệ sinh,… Thành phần nước thải sinh hoạt khu dân cư được nêu trong bảng 1. Thành phần nước thải sinh hoạt khu dân cư Chỉ tiêu Trong khoảng Trung bình Tổng chất rắn (TS), mg/l 350-1.200 720 - Chất rắn hoà tan (TDS), mg/l 250-850 500 - Chất rắn lơ lửng (SS), mg/l 100-350 220 BOD5, mg/l 110-400 220 Tổng Nitơ, mg/l 20-85 40 - Nitơ hữu cơ, mg/l 8-35 15 - Nitơ Amoni, mg/l 12-50 25 - Nitơ Nitrit, mg/l 0-0,1 0,05 - Nitơ Nitrat, mg/l 0,1-0,4 0,2 Clorua, mg/l 30-100 50 Độ kiềm, mgCaCO3/l 50-200 100 Tổng chất béo, mg/l 50-150 100 Tổng Phốt pho, mg/l 8 (Nguồn: PGS. Trần Đức Hạ (2006), Xử lý nước thải đô thị, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội) Nước thải sinh hoạt giàu chất hữu cơ và chất dinh dưỡng, vì vậy nó là nguồn để các loại vi khuẩn, trong đó có vi khuẩn gây bệnh phát triển.
Trong nước thải đô thị tổng số coliform từ 106 ÷ 109 MPN/100ml, fecal coliform từ 104 ÷ 107 MPN/100ml. Như vậy nước thải sinh hoạt của đô thị, các khu dân cư và các cơ sở dịch vụ, công trình công cộng có khối lượng lớn, hàm lượng chất bẩn cao, nhiều vi khuẩn gây bệnh là một trong những nguồn gây ô nhiễm chính đối với môi trường nước. Tính chất vật lý Tính chất vật lý của nước thải được xác định dựa trên các chỉ tiêu: Các chất rắn, độ đục, màu sắc, mùi vị, nhiệt độ, lưu lượng. Các chất rắn trong nước thải Nước thải là hệ đa phân tán bao gồm nước và các chất bẩn.
Các loại nước thải sinh hoạt có nguồn gốc từ các hoạt động của con người., các nguyên tố chủ yếu tham gia trong thành phần nước thải là cacbon, hydro, ôxy và nitơ ứng với công thức trung bình C12H26O6N. Các chất bẩn trong nước thải có các thành Học viên: Nguyễn Trung Hiếu Luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ Trang 12 Trường Đại học Xây dựng phần hữu cơ và vô cơ, tồn tại dưới dạng cặn lắng, các chất rắn không lắng được là các chất hoà tan và dạng keo. Thành phần chất bẩn trong nước thải sinh hoạt được biểu thị theo sơ đồ hình 1. Nước thải sinh hoạt 99,9% 0,1% Nước Các chất rắn 50÷70% 30÷50% Các chất hữu cơ Các chất vô cơ 65% 25% 10% Protein Cacbon hydrat Các chất béo Cát Muối Kim loại Hình 1.
Thành phần các chất bẩn trong nước thải sinh hoạt Theo Imhoff, khối lượng chất bẩn do một người thải vào nước thải sinh hoạt trong một ngày được xác định theo bảng 1. Khối lượng chất bẩn có trong nước thải sinh hoạt, g/người.ngày Thành phần Cặn lắng Chất rắn không tan Chất hoà tan Tổng cộng Hữu cơ 30 10 50 90 Vô cơ 10 5 75 90 Tổng cộng 40 15 125 180 (Nguồn: PGS. Trần Đức Hạ (2006), Xử lý nước thải đô thị, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội) Tổng chất rắn là thành phần vật lý đặc trưng của nước thải. Các chất rắn không hoà tan có hai dạng: chất rắn keo và chất rắn lơ lửng.
Chất rắn lơ lửng (SS) được giữ lại trên giấy lọc kích thước lỗ 1,2 m, bao gồm chất rắn lơ lửng lắng được và chất rắn lơ lửng không lắng được. Phân loại chất rắn trong nước thải nêu trên hình 1. Học viên: Nguyễn Trung Hiếu Luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ Trang 13 Trường Đại học Xây dựng Chất rắn hoà tan Chất rắn keo Chất rắn lơ lửng TS TDS TSS Kích thước hạt, mm -8 -7 -6 -5 -4 10 10 10 10 10 10-3 10-2 10-1 1 Khử bằng keo tụ Lắng được Hình 1. Các loại chất rắn trong nước thải Khi xả nước thải vào nguồn nước mặt, các chất rắn không hoà tan có thể lắng đọng vào đầu cống xả.
Cặn lắng có thể cản trở dòng chảy, thay đổi kích thước và chế độ thuỷ lực sông hồ. Thành phần hữu cơ trong bùn cặn nước thải đô thị rất lớn (từ 55- 70%). Hiện tượng lắng cặn hữu cơ kèm theo quá trình hô hấp vi sinh trong lớp bùn gây thiếu ôxy và tạo nên các khí độc hại như H2S, CH4,… vùng cống xả, nước vùng này có màu đen và mùi hôi của hyđrô sunfua. Màu Đây là một trong những thông số để xác định chất lượng nước.
Nước sạch thường không có màu, nhìn chung màu nước thải thường là màu xám có vẩn đục. Màu sắc của nước thải sẽ bị thay đổi đáng kể nếu như nó bị nhiễm khuẩn, khi đó nước thải sẽ có màu đen tối. Độ đục Một trong những đặc điểm dễ nhận biết về sự ô nhiễm của nước, đó chính là độ trong của nước, được xác định thông qua độ đục. Độ đục của nước có được là do sự tồn tại các chất lơ lửng trong nước như tảo, vi sinh vật, đất sét, bọt xà phòng, các chất tẩy rửa,… Phương pháp thường sử dụng để đo độ đục trong nước thải là phương pháp UV-Vis.
Mùi Mùi của nước thải là do khí sinh ra từ quá trình phân huỷ các hợp chất hữu cơ hay do một số chất được đưa thêm vào trong nước thải. Nước thải sinh hoạt thông thường có mùi mốc, nhưng nếu nước thải bị nhiễm khuẩn thì nó sẽ có mùi trứng thối do sự tạo thành khí H2S. Học viên: Nguyễn Trung Hiếu Luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ Trang 14 Trường Đại học Xây dựng 1. Nhiệt độ Nhiệt độ của nước thải thường cao hơn so với nhiệt độ của nguồn nước sạch ban đầu, bởi vì có sự gia nhiệt vào nước từ các đồ dùng trong gia đình và các máy móc thiết bị công nghiệp.
Tuy nhiên, chính những dòng nước thấm qua đất và lượng nước mưa đổ xuống mới là nhân tố làm thay đổi đáng kể nhiệt độ của nước. Khi nhiệt độ của nước tăng lên sẽ ảnh hưởng đến khả năng hoà tan ôxy trong nước, tốc độ hoạt động của các vi khuẩn trong nước thải. Lưu lượng Lưu lượng nước thải cũng được xem là một trong những đặc tính vật lý của nước thải, có đơn vị là m3/ngày. Khi thiết kế hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt, lưu lượng được tính theo lượng nước thải bình quân đầu người.
Lưu lượng nước thải luôn thay đổi trong ngày. Tính chất hoá học Tính chất hoá học của nước thải thường bao gồm tính chất của các hợp chất hữu cơ và hợp chất vô cơ. Các hợp chất hữu cơ trong nước thải Trong nước thải tồn tại nhiều tạp chất hữu cơ nguồn gốc tự nhiên hay nhân tạo: polysacarit, protein, hợp chất hữu cơ chứa nitơ, axit humic, lipit (dầu, mỡ), phụ gia thực phẩm, chất hoạt động bề mặt, phenol và các chất thuộc họ của chúng (chất thải của người, động vật, thực vật, chất bảo vệ thực vật, dược phẩm, thuốc màu, nhiên liệu,…), chất hữu cơ tạo phức, hydro cacbon và dẫn xuất của chúng. Trong nước thải sinh hoạt, các chất hữu cơ chủ yếu là cacbon hydrat (CHO) như đường, xenlulo; các chất dầu mỡ (CHO) như axit béo dễ bay hơi; các chất đạm (CHOSP) như amino axit và urê (CHON)m.
Các hợp chất hữu cơ có thể tồn tại dưới dạng hoà tan, keo, không hoà tan, bay hơi hoặc không bay hơi, dễ phân huỷ hoặc khó phân huỷ,… Phần lớn chất hữu cơ trong nước đóng vai trò cơ chất đối với vi sinh vật. Nó tham gia vào quá trình dinh dưỡng và tạo năng lượng cho vi sinh vật. Người ta thường xác định tổng các chất hữu cơ. Các thông số thường được chọn là tổng hàm lượng cacbon hữu cơ (TOC), một phần hoà tan của nó là lượng cacbon Học viên: Nguyễn Trung Hiếu Luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ Trang 15 Trường Đại học Xây dựng hữu cơ hoà tan (DOC), lượng chất hữu cơ có thể ôxy hoá hoá học ứng với thông số nhu cầu ôxy hoá học (COD), lượng chất hữu cơ có thể bị ôxy hoá sinh hoá ứng với sự tiêu thụ ôxy của vi khuẩn (BOD).
Giữa đại lượng COD và BOD có mối quan hệ với nhau. Tuy nhiên tỷ lệ này thay đổi đối với từng loại nước thải, nước nguồn và cả trong quá trình xử lý. Mối quan hệ giữa ThOD, BOD5, COD theo K2Cr2O7 và theo KMnO4 nêu trên hình 1. Thông thường trong nước thải sinh hoạt ở điều kiện 200C sau 5 ngày lượng ôxy tiêu thụ chủ yếu cho ôxy hoá sinh hoá các chất hữu cơ cacbon (BOD 5) và sau 20 ngày lượng ôxy tiêu thụ cho quá trình sinh hoá là ổn định (BOD20).